Al-MukhtasarIbrahim · 14:1–52

Al-Mukhtasar · Tafsir · in Vietnamese

ابراهيم

Ibrahim

Abraham · Meccan · 52 ayahs

14:1Page 255

الٓرۚ كِتَٰبٌ أَنزَلۡنَٰهُ إِلَيۡكَ لِتُخۡرِجَ ٱلنَّاسَ مِنَ ٱلظُّلُمَٰتِ إِلَى ٱلنُّورِ بِإِذۡنِ رَبِّهِمۡ إِلَىٰ صِرَٰطِ ٱلۡعَزِيزِ ٱلۡحَمِيدِ ١

Alif, Lām, Rā.1 [This is] a Book which We have revealed to you, [O Muḥammad], that you might bring mankind out of darknesses into the light by permission of their Lord - to the path of the Exalted in Might, the Praiseworthy -

Alif- Lam- Ra. Các chữ cái này đã được giảng giải ở phần đầu chương Al-Baqarah. Qur'an này là một quyển Kinh mà TA ban cho Ngươi - hỡi Thiên Sứ - để Ngươi đưa loài người từ sự vô đức tin, ngu muội và lạc lối đến với đức tin, sự hiểu biết và chỉ đạo theo ý muốn của Allah Tối Cao, và Nó hỗ trợ đến với tôn giáo Islam, con đường của Allah Toàn Năng, Đấng mà không ai vượt trội hơn Ngài, và Ngài là Đấng Đáng Ca Ngợi trong tất cả vụ việc.

14:2Page 255

ٱللَّهِ ٱلَّذِي لَهُۥ مَا فِي ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَمَا فِي ٱلۡأَرۡضِۗ وَوَيۡلٞ لِّلۡكَٰفِرِينَ مِنۡ عَذَابٖ شَدِيدٍ ٢

Allāh, to whom belongs whatever is in the heavens and whatever is on the earth. And woe [i.e., destruction] to the disbelievers from a severe punishment -

Allah là Đấng duy nhất cai trị các tầng trời và vạn vật dưới đất, vì vậy chỉ Ngài duy nhất xứng đáng được thờ phượng, không ai xứng đáng làm cộng sự với Ngài, và Ngài sẽ trừng phạt những kẻ không có đức tin bằng hình phạt khủng khiếp

14:3Page 255

ٱلَّذِينَ يَسۡتَحِبُّونَ ٱلۡحَيَوٰةَ ٱلدُّنۡيَا عَلَى ٱلۡأٓخِرَةِ وَيَصُدُّونَ عَن سَبِيلِ ٱللَّهِ وَيَبۡغُونَهَا عِوَجًاۚ أُوْلَٰٓئِكَ فِي ضَلَٰلِۭ بَعِيدٖ ٣

The ones who prefer the worldly life over the Hereafter and avert [people] from the way of Allāh, seeking to make it [seem] deviant. Those are in extreme error.

Những kẻ không có đức tin bị đời sống trần tục xa hoa tác động mà quên mất đi hồng ân vĩnh cựu vào Ngày Sau, và họ cố tình chuyển đổi nhận thức của con người về con đường của Allah, và cố tình lôi kéo họ lệch khỏi con đường chân lý, bị bẻ cong và chuyển hướng nó cho đến khi không một ai có thể đi trên con đường đó nữa. Đối với những ai có đức tính như miêu tả chính là đám người bị lạc lối rất xa với chân lý và sự đúng đắn

14:4Page 255

وَمَآ أَرۡسَلۡنَا مِن رَّسُولٍ إِلَّا بِلِسَانِ قَوۡمِهِۦ لِيُبَيِّنَ لَهُمۡۖ فَيُضِلُّ ٱللَّهُ مَن يَشَآءُ وَيَهۡدِي مَن يَشَآءُۚ وَهُوَ ٱلۡعَزِيزُ ٱلۡحَكِيمُ ٤

And We did not send any messenger except [speaking] in the language of his people to state clearly for them, and Allāh sends astray [thereby] whom He wills1 and guides whom He wills. And He is the Exalted in Might, the Wise.

Và không có Sứ Giả nào được Ta phái đến mà lại không nói thứ tiếng của cộng đồng Người, mục đích để Người dễ dàng truyền đạt những gì được Allah mặc khải, và cũng không ép buộc họ phải tin tưởng Allah. Rồi bằng sự công bằng Ngài đánh lạc hướng kẻ nào Ngài muốn, và Ngài đồng ý dẫn dắt người nào Ngài muốn bằng hồng ân của Ngài. Vì Ngài là Đấng Toàn Năng không ai có thể qua mặt được, Đấng Sáng Suốt trong tạo vật và quản lý nó

14:5Page 255

وَلَقَدۡ أَرۡسَلۡنَا مُوسَىٰ بِـَٔايَٰتِنَآ أَنۡ أَخۡرِجۡ قَوۡمَكَ مِنَ ٱلظُّلُمَٰتِ إِلَى ٱلنُّورِ وَذَكِّرۡهُم بِأَيَّىٰمِ ٱللَّهِۚ إِنَّ فِي ذَٰلِكَ لَأٓيَٰتٖ لِّكُلِّ صَبَّارٖ شَكُورٖ ٥

And We certainly sent Moses with Our signs, [saying], "Bring out your people from darknesses into the light and remind them of the days1 of Allāh." Indeed in that are signs for everyone patient and grateful.

Quả thật Ta đã cử Musa đến và TA đã ban cho Người những dấu hiệu làm bằng chứng cho sự trung thực của Người, và xác định Người đúng thực được Thượng Đế phái đến. Và TA ra lệnh cho Người giải thoát cộng đồng mình từ không có đức tin và ngu muội trở nên có đức tin và hiểu biết. Và Ta cũng ra lệnh Người phải nhắc nhở họ về những ngày của Allah, đó là những ngày mà TA đã ban hồng phúc cho họ, quả thật trong những ngày đó có các dấu hiệu rõ ràng về việc tôn thờ Allah duy nhất và quyền năng vĩ đại của Ngài, và Ngài cũng ban các hồng phúc cho những người có đức tin. Và những điều này rất có ý nghĩa với những người kiên nhẫn trong việc phục tùng Allah và luôn biết ơn về hồng ân của Ngài

14:6Page 256

وَإِذۡ قَالَ مُوسَىٰ لِقَوۡمِهِ ٱذۡكُرُواْ نِعۡمَةَ ٱللَّهِ عَلَيۡكُمۡ إِذۡ أَنجَىٰكُم مِّنۡ ءَالِ فِرۡعَوۡنَ يَسُومُونَكُمۡ سُوٓءَ ٱلۡعَذَابِ وَيُذَبِّحُونَ أَبۡنَآءَكُمۡ وَيَسۡتَحۡيُونَ نِسَآءَكُمۡۚ وَفِي ذَٰلِكُم بَلَآءٞ مِّن رَّبِّكُمۡ عَظِيمٞ ٦

And [recall, O Children of Israel], when Moses said to his people, "Remember the favor of Allāh upon you when He saved you from the people of Pharaoh, who were afflicting you with the worst torment and were slaughtering your [newborn] sons and keeping your females alive. And in that was a great trial from your Lord.

Và Ngươi hãy nhớ lại - hỡi Thiên Sứ - khi Musa nhận mệnh lệnh từ Thượng Đế của Người, kêu Người bảo với người dân của mình là bộ tộc Israel về việc ghi nhớ ân huệ mà Allah đã ban cho: Hỡi dân ta! Các ngươi hãy nhớ đến ân huệ của Allah đã ban cho các ngươi khi Ngài đã giải thoát các ngươi từ đồng bọn của Fir-'awn, Ngài đã giải phóng các ngươi khỏi đau khổ, và cứu thoát các ngươi khỏi hình phạt tàn ác của chúng. Chúng giết con trai các ngươi để không ai tranh giành ngai vàng của chúng sau này, và chúng giữ phụ nữ của các ngươi lại để mà lăng mạ và sĩ nhục họ. Qua những hành động của chúng, đó chính là sự thử thách to lớn về lòng kiên nhẫn giành cho các ngươi. Rồi Allah xem xét lại lòng kiên nhẫn đó trong sự thử thách về việc giải thoát các ngươi khỏi sự đau khổ từ đồng bọn của Fir-'awn

14:7Page 256

وَإِذۡ تَأَذَّنَ رَبُّكُمۡ لَئِن شَكَرۡتُمۡ لَأَزِيدَنَّكُمۡۖ وَلَئِن كَفَرۡتُمۡ إِنَّ عَذَابِي لَشَدِيدٞ ٧

And [remember] when your Lord proclaimed, 'If you are grateful, I will surely increase you [in favor]; but if you deny, indeed, My punishment is severe.'"

Và Musa đã bảo họ rằng: Các ngươi hãy nhớ, khi Thượng Đế của các ngươi công bố một vấn đề trọng đại: Nếu các ngươi biết ơn Ngài về những hồng phúc mà Ngài đã ban cho, thì Ngài sẽ ban thêm hồng phúc và ân huệ cho các ngươi. Còn nếu các ngươi phủ nhận hồng phúc của Ngài và không biết ơn về điều đó, thì chắc chắn rằng Ngài sẽ dành hình phạt khủng khiếp cho những ai phủ nhận hồng phúc của Ngài và bội ơn về điều đó

14:8Page 256

وَقَالَ مُوسَىٰٓ إِن تَكۡفُرُوٓاْ أَنتُمۡ وَمَن فِي ٱلۡأَرۡضِ جَمِيعٗا فَإِنَّ ٱللَّهَ لَغَنِيٌّ حَمِيدٌ ٨

And Moses said, "If you should disbelieve, you and whoever is on the earth entirely - indeed, Allāh is Free of need and Praiseworthy."

Rồi Musa bảo người dân của mình: Này dân Ta! Nếu các ngươi và toàn thể nhân loại trên trái đất này có vong ơn, bạc nghĩa thì sự vong ơn đó sẽ trở về với các ngươi. Vì quả thật, Allah tự giàu có trong chính bản thân Ngài, và Ngài đáng được ca ngợi từ trong chính Ngài, đức tin của những người có đức tin không hề mang lợi ích gì cho Ngài, và sự phủ nhận của những kẻ bất tin cũng không gây thiệt hại gì cho Ngài

14:9Page 256

أَلَمۡ يَأۡتِكُمۡ نَبَؤُاْ ٱلَّذِينَ مِن قَبۡلِكُمۡ قَوۡمِ نُوحٖ وَعَادٖ وَثَمُودَ وَٱلَّذِينَ مِنۢ بَعۡدِهِمۡ لَا يَعۡلَمُهُمۡ إِلَّا ٱللَّهُۚ جَآءَتۡهُمۡ رُسُلُهُم بِٱلۡبَيِّنَٰتِ فَرَدُّوٓاْ أَيۡدِيَهُمۡ فِيٓ أَفۡوَٰهِهِمۡ وَقَالُوٓاْ إِنَّا كَفَرۡنَا بِمَآ أُرۡسِلۡتُم بِهِۦ وَإِنَّا لَفِي شَكّٖ مِّمَّا تَدۡعُونَنَآ إِلَيۡهِ مُرِيبٖ ٩

Has there not reached you the news of those before you - the people of Noah and ʿAad and Thamūd and those after them? No one knows them [i.e., their number] but Allāh. Their messengers brought them clear proofs, but they returned their hands to their mouths1 and said, "Indeed, we disbelieve in that with which you have been sent, and indeed we are, about that to which you invite us, in disquieting doubt."

Há các ngươi - hỡi đám người vô đức tin - đã chưa nghe thông tin về sự hủy diệt của những cộng đồng dối trá trước đây hay sao, như: Đám dân của Nuh, đám dân 'Ad, đám dân của Hud, đám dân Thamud của Saleh, và những người đến sau họ? và họ rất đông không ai biết rõ số lượng của họ ngoại trừ Allah. Khi các Sứ Giả mang đến cho họ những bằng chứng rõ ràng, nhưng họ đặt tay vào miệng mà cắn các ngón tay thể hiện sự tức giận với các Sứ Giả, rồi họ nói với các Sứ Giả: Chúng tôi không tin tưởng những điều quí vị mang đến, và chúng tôi vô cùng nghi ngờ về những gì quí vị kêu gọi chúng tôi chấp nhận

14:10Page 256

۞ قَالَتۡ رُسُلُهُمۡ أَفِي ٱللَّهِ شَكّٞ فَاطِرِ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِۖ يَدۡعُوكُمۡ لِيَغۡفِرَ لَكُم مِّن ذُنُوبِكُمۡ وَيُؤَخِّرَكُمۡ إِلَىٰٓ أَجَلٖ مُّسَمّٗىۚ قَالُوٓاْ إِنۡ أَنتُمۡ إِلَّا بَشَرٞ مِّثۡلُنَا تُرِيدُونَ أَن تَصُدُّونَا عَمَّا كَانَ يَعۡبُدُ ءَابَآؤُنَا فَأۡتُونَا بِسُلۡطَٰنٖ مُّبِينٖ ١٠

Their messengers said, "Can there be doubt about Allāh, Creator of the heavens and earth? He invites you that He may forgive you of your sins, and He delays you [i.e., your death] for a specified term." They said, "You are not but men like us who wish to avert us from what our fathers were worshipping. So bring us a clear authority [i.e., evidence]."

Các Sứ Giả đáp lại họ: Chẳng lẻ các ngươi nghi ngờ về Tawhid - thuyết độc thần - và thuộc tính duy nhất của Allah trong việc thờ phượng Ngài hay sao, trong khi Ngài là Đấng đã khởi tạo ra các tầng trời và đất từ không là gì trước đây?! Ngài kêu gọi các ngươi đến với niềm tin Iman để Ngài tha thứ những lỗi lầm trước đó của các ngươi, và trì hoãn các ngươi cho đến ky hạn nhất định trên trần gian. Thế nhưng đám dân chúng đáp trả lại: Quí vị cũng chỉ là những người bình thường như chúng tôi, không có gì đặc biệt hơn chúng tôi cả, các vị muốn thay đổi chúng tôi thờ phượng những gì mà cha ông chúng tôi đã thờ phượng ư. Vậy thì quí vị hãy đưa ra các bằng chứng cụ thể để chúng tôi tin tưởng rằng quí vị là những vị Sứ Giả được Allah phái đến

14:11Page 257

قَالَتۡ لَهُمۡ رُسُلُهُمۡ إِن نَّحۡنُ إِلَّا بَشَرٞ مِّثۡلُكُمۡ وَلَٰكِنَّ ٱللَّهَ يَمُنُّ عَلَىٰ مَن يَشَآءُ مِنۡ عِبَادِهِۦۖ وَمَا كَانَ لَنَآ أَن نَّأۡتِيَكُم بِسُلۡطَٰنٍ إِلَّا بِإِذۡنِ ٱللَّهِۚ وَعَلَى ٱللَّهِ فَلۡيَتَوَكَّلِ ٱلۡمُؤۡمِنُونَ ١١

Their messengers said to them, "We are only men like you, but Allāh confers favor upon whom He wills of His servants. It has never been for us to bring you evidence except by permission of Allāh. And upon Allāh let the believers rely.

Các vị Thiên Sứ đáp lại họ: Chúng tôi cũng là những người bình thường như các người, chúng tôi không phủ nhận điều đó, nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả mọi thứ phải như nhau về mọi mặt, bởi vì Allah ban ân huệ với những hồng phúc riêng biệt cho ai mà Ngài muốn trong số bầy tôi của Ngài như việc Ngài chọn lọc các vị Thiên Sứ trong số nhân loại. Chúng tôi không có quyền mang đến cho các người những điều mà các người yêu cầu trừ khi Allah cho phép làm điều đó, vì điều đó nằm ngoài khả năng của chúng tôi, chỉ Allah duy nhất mới là Đấng Toàn Năng cho mọi vụ việc, và chỉ có Allah là Đấng duy nhất để những người có đức tin phó thác trong tất cả vụ việc của họ.

14:12Page 257

وَمَا لَنَآ أَلَّا نَتَوَكَّلَ عَلَى ٱللَّهِ وَقَدۡ هَدَىٰنَا سُبُلَنَاۚ وَلَنَصۡبِرَنَّ عَلَىٰ مَآ ءَاذَيۡتُمُونَاۚ وَعَلَى ٱللَّهِ فَلۡيَتَوَكَّلِ ٱلۡمُتَوَكِّلُونَ ١٢

And why should we not rely upon Allāh while He has guided us to our [good] ways. And we will surely be patient against whatever harm you should cause us. And upon Allāh let those who would rely [indeed] rely."

Điều gì ngăn cản và nguyên nhân gì khiến chúng tôi không phó thác nơi Ngài? Trong khi chính Ngài đã chỉ dẫn chúng tôi những đường lối ngay thẳng và đúng đắn. Và chắc chắn rằng chúng tôi sẽ kiên trì, chịu đựng trước mọi sự gây hại của các người từ việc phủ nhận và nhạo báng. Và chỉ có Allah duy nhất mới là Đấng để những người có đức tin phó thác trong tất cả vụ việc của họ.

14:13Page 257

وَقَالَ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ لِرُسُلِهِمۡ لَنُخۡرِجَنَّكُم مِّنۡ أَرۡضِنَآ أَوۡ لَتَعُودُنَّ فِي مِلَّتِنَاۖ فَأَوۡحَىٰٓ إِلَيۡهِمۡ رَبُّهُمۡ لَنُهۡلِكَنَّ ٱلظَّٰلِمِينَ ١٣

And those who disbelieved said to their messengers, "We will surely drive you out of our land, or you must return to our religion." So their Lord inspired to them, "We will surely destroy the wrongdoers.

Và những kẻ không có đức tin trong cộng đồng của các Sứ Giả nói khi họ không còn lời lẻ để tranh luận: Chúng tôi phải trục xuất các vị ra khỏi ngôi làng, hoặc các vị phải quay trở lại theo tôn giáo của chúng tôi. Cho nên Allah đã mặc khải cho các Sứ Giả với sự khẳng định rằng: TA chắc chắn sẽ tiêu diệt những kẻ sai quấy đã phủ nhận nơi Allah và các Sứ Giả của Ngài

14:14Page 257

وَلَنُسۡكِنَنَّكُمُ ٱلۡأَرۡضَ مِنۢ بَعۡدِهِمۡۚ ذَٰلِكَ لِمَنۡ خَافَ مَقَامِي وَخَافَ وَعِيدِ ١٤

And We will surely cause you to dwell in the land after them. That is for he who fears My position1 and fears My threat."

Và chắc chắn TA sẽ bổ nhiệm các ngươi - hỡi các Sứ Giả và những ai theo các ngươi - làm đại diện trên trái đất này sau khi họ bị tiêu diệt, đó là sự gợi nhớ từ việc hủy diệt của những kẻ phủ nhận dối trá, rồi các Sứ Giả và những người có đức tin được định cư trên mặt đất sau khi những kẻ phủ nhận bị tiêu diệt, điều này dành cho ai nhớ đến sự vĩ đại của TA và sự giám sát của TA cũng như y sợ hãi hình phạt của TA

14:15Page 257

وَٱسۡتَفۡتَحُواْ وَخَابَ كُلُّ جَبَّارٍ عَنِيدٖ ١٥

And they requested decision [i.e., victory from Allāh], and disappointed, [therefore], was every obstinate tyrant.

Rồi các Sứ Giả cầu xin Allah ban cho Chúng được thắng lợi trước kẻ thù, và từng tên kiêu ngạo bất tuân vào lẻ phải điều bị thất bại, chớ nên đi theo vết xe đổ của hắn

14:16Page 257

مِّن وَرَآئِهِۦ جَهَنَّمُ وَيُسۡقَىٰ مِن مَّآءٖ صَدِيدٖ ١٦

Before him1 is Hell, and he will be given a drink of purulent water.2

Trước mặt kẻ kiêu ngạo vào Ngày Phục Sinh là Hỏa Ngục, đó là nơi để xử phạt hắn, hắn sẽ bị bắt uống mủ của những kẻ nằm trong đó, vì không có bất cứ nước gì khác để uống, rồi hắn vẫn bị chịu hình phạt với cơn khát và các loại hình phạt khác nữa

14:17Page 257

يَتَجَرَّعُهُۥ وَلَا يَكَادُ يُسِيغُهُۥ وَيَأۡتِيهِ ٱلۡمَوۡتُ مِن كُلِّ مَكَانٖ وَمَا هُوَ بِمَيِّتٖۖ وَمِن وَرَآئِهِۦ عَذَابٌ غَلِيظٞ ١٧

He will gulp it but will hardly [be able to] swallow it. And death will come to him from everywhere, but he is not to die. And before him is a massive punishment.

Hắn bị bắt uống hết lần này đến lần khác với vị đắng khủng khiếp, nhiệt độ sôi cực cao, và mùi hôi thúi bốc lên nồng nặc, không thể nào nuốt nổi. Và cái chết đến với hắn từ mọi khía cạnh với sự đau đớn tột cùng mà những gì hắn đang bị trừng phạt. Nhưng hắn không thể chết mà vẫn tiếp tục sống để chịu sự hình phạt. Và những hình phạt đau đớn khác đang chờ đợi hắn ở phía trước

14:18Page 257

مَّثَلُ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ بِرَبِّهِمۡۖ أَعۡمَٰلُهُمۡ كَرَمَادٍ ٱشۡتَدَّتۡ بِهِ ٱلرِّيحُ فِي يَوۡمٍ عَاصِفٖۖ لَّا يَقۡدِرُونَ مِمَّا كَسَبُواْ عَلَىٰ شَيۡءٖۚ ذَٰلِكَ هُوَ ٱلضَّلَٰلُ ٱلۡبَعِيدُ ١٨

The example of those who disbelieve in their Lord is [that] their deeds are like ashes which the wind blows forcefully on a stormy day; they are unable [to keep] from what they earned a [single] thing. That is what is extreme error.

Hình ảnh những việc làm tốt đẹp của những kẻ phủ nhận như: bố thí, làm từ thiên, thương xót người yếu đuối, những việc làm đó của họ như những đống tro tàn mà gió sẽ thổi bay đi dữ dội vào một ngày bão tố, và bị cuốn đi một cách mạnh liệt, rồi bị phân tán khắp mọi nơi và mất hết mọi dấu vết. Và như vậy, những việc làm của những kẻ phủ nhận cũng sẽ bị vô dụng, không giúp ích được gì cho chúng vào Ngày Phục Sinh. bởi việc làm đó không dựa trên đức tin nên nó đi lạc xa với con đường chính đạo

14:19Page 258

أَلَمۡ تَرَ أَنَّ ٱللَّهَ خَلَقَ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضَ بِٱلۡحَقِّۚ إِن يَشَأۡ يُذۡهِبۡكُمۡ وَيَأۡتِ بِخَلۡقٖ جَدِيدٖ ١٩

Have you not seen [i.e., considered] that Allāh created the heavens and the earth in truth? If He wills, He can do away with you and produce a new creation.

Há ngươi - hỡi nhân loại - không biết rằng chính vì chân lý mà Allah đã tạo nên các tầng trời và đất hay sao? Ngài đã không tạo ra chúng một cách vô nghĩa. Và nếu muốn, Ngài sẽ tiêu diệt các ngươi - hỡi con người - và Ngài sẽ mang đến một tạo hóa mới để thờ phượng và tuân theo Ngài thay thế các ngươi, và đó là việc hết sức đơn giản và dễ dàng đối với ngài

14:20Page 258

وَمَا ذَٰلِكَ عَلَى ٱللَّهِ بِعَزِيزٖ ٢٠

And that is not difficult for Allāh.

Việc hủy diệt các ngươi và tái tạo lại một tạo hóa mới khác các ngươi không phải là điều khó khăn đối với Ngài, vì Ngài có toàn năng trong tất cả mọi việc, không gì có thể làm khó được Ngài

14:21Page 258

وَبَرَزُواْ لِلَّهِ جَمِيعٗا فَقَالَ ٱلضُّعَفَٰٓؤُاْ لِلَّذِينَ ٱسۡتَكۡبَرُوٓاْ إِنَّا كُنَّا لَكُمۡ تَبَعٗا فَهَلۡ أَنتُم مُّغۡنُونَ عَنَّا مِنۡ عَذَابِ ٱللَّهِ مِن شَيۡءٖۚ قَالُواْ لَوۡ هَدَىٰنَا ٱللَّهُ لَهَدَيۡنَٰكُمۡۖ سَوَآءٌ عَلَيۡنَآ أَجَزِعۡنَآ أَمۡ صَبَرۡنَا مَا لَنَا مِن مَّحِيصٖ ٢١

And they will come out [for judgement] before Allāh all together, and the weak will say to those who were arrogant, "Indeed, we were your followers, so can you avail us anything against the punishment of Allāh?" They will say, "If Allāh had guided us, we would have guided you. It is all the same for us whether we show intolerance or are patient: there is for us no place of escape."

Và tất cả các sinh linh được đưa ra khỏi ngôi mộ vào Ngày Được Chỉ Định. Rồi những người cô thế nói với những người lãnh đạo tối cao của họ: Hỡi những lãnh đạo mà chúng tôi đã theo, chúng tôi tiếp tục nghe theo các ngài, và chúng tôi cũng sẽ kết thúc cùng một kết cuộc như các ngài. Các ngài có thể giúp chúng tôi thoát khỏi hình phạt của Allah không? Rồi những vị lãnh đạo của họ đáp: Nếu như Allah chấp nhận hướng dẫn chúng tôi, thì chúng tôi đã dẫn dắt các người rồi, giờ thì tất cả chúng ta điều chịu hình phạt như nhau từ Ngài, vì chúng tôi đã lầm lỗi và đã làm cho các người lầm lỗi theo. Chúng ta điều như nhau cả dù cho có than vãn về hình phạt hay là ráng chịu đựng đi nữa thì chúng ta cũng sẽ không thoát khỏi sự trừng phạt

14:22Page 258

وَقَالَ ٱلشَّيۡطَٰنُ لَمَّا قُضِيَ ٱلۡأَمۡرُ إِنَّ ٱللَّهَ وَعَدَكُمۡ وَعۡدَ ٱلۡحَقِّ وَوَعَدتُّكُمۡ فَأَخۡلَفۡتُكُمۡۖ وَمَا كَانَ لِيَ عَلَيۡكُم مِّن سُلۡطَٰنٍ إِلَّآ أَن دَعَوۡتُكُمۡ فَٱسۡتَجَبۡتُمۡ لِيۖ فَلَا تَلُومُونِي وَلُومُوٓاْ أَنفُسَكُمۖ مَّآ أَنَا۠ بِمُصۡرِخِكُمۡ وَمَآ أَنتُم بِمُصۡرِخِيَّ إِنِّي كَفَرۡتُ بِمَآ أَشۡرَكۡتُمُونِ مِن قَبۡلُۗ إِنَّ ٱلظَّٰلِمِينَ لَهُمۡ عَذَابٌ أَلِيمٞ ٢٢

And Satan will say when the matter has been concluded, "Indeed, Allāh had promised you the promise of truth. And I promised you, but I betrayed you. But I had no authority over you except that I invited you, and you responded to me. So do not blame me; but blame yourselves. I cannot be called to your aid, nor can you be called to my aid. Indeed, I deny your association of me [with Allāh] before.1 Indeed, for the wrongdoers is a painful punishment."

Và Iblis lên tiếng khi mà nhóm người của Thiên Đàng đã được vào Thiên Đàng, và nhóm người Hỏa Ngục đã vào Hỏa Ngục: Quả thật, Allah đã giữ đúng lời hứa với các ngươi, Ngài đã thực hiện nó, và ta cũng đã hứa với các ngươi rồi ta thất hứa không hoàn thành được nó, và ta chẳng có quyền hạng gì với các ngươi ngoại trừ việc làm cho các ngươi phủ nhận Allah và lạc lối ở trần gian, ta đã kêu gọi các ngươi phủ nhận Allah, và cám dỗ các ngươi làm những việc xấu xa, rồi các ngươi đã nhanh chóng làm theo. Các ngươi đừng đỗ lỗi cho ta, mà hãy trách bản thân các ngươi, đó là điều đầu tiên các ngươi nên trách móc. Ta chẳng giúp được gì cho các ngươi để thoát khỏi sự trừng phạt, và các ngươi cũng chẳng giúp được gì cho ta. Quả thật, ta phủ nhận việc các ngươi đã cho ta là kẻ đối tác với Allah trong việc thờ phượng. Quả thật, những kẻ sai phạm - bằng việc tổ hợp với Allah trên trần gian và phủ nhận Ngài - sẽ có hình phạt dành cho họ vào Ngày Phục Sinh

14:23Page 258

وَأُدۡخِلَ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَعَمِلُواْ ٱلصَّٰلِحَٰتِ جَنَّٰتٖ تَجۡرِي مِن تَحۡتِهَا ٱلۡأَنۡهَٰرُ خَٰلِدِينَ فِيهَا بِإِذۡنِ رَبِّهِمۡۖ تَحِيَّتُهُمۡ فِيهَا سَلَٰمٌ ٢٣

And those who believed and did righteous deeds will be admitted to gardens beneath which rivers flow, abiding eternally therein by permission of their Lord; and their greeting therein will be, "Peace!"

Và đối lập với số phận của những kẻ sai quấy, những người có đức tin và làm việc thiện thì sẽ được đưa vào các ngôi vườn Thiên Đàng có những tòa lâu đài mà bên dưới có các dòng sông chảy và những hàng cây, họ sẽ được ở đó đời đời theo ý nguyện của Thượng Đế của họ. Trong đó, mọi người chào hỏi lẫn nhau, các vị Thiên Thần cũng sẽ chào hỏi họ. Và Thượng Đế của họ cũng sẽ chào hỏi bằng lời chào bình an

14:24Page 258

أَلَمۡ تَرَ كَيۡفَ ضَرَبَ ٱللَّهُ مَثَلٗا كَلِمَةٗ طَيِّبَةٗ كَشَجَرَةٖ طَيِّبَةٍ أَصۡلُهَا ثَابِتٞ وَفَرۡعُهَا فِي ٱلسَّمَآءِ ٢٤

Have you not considered how Allāh presents an example, [making] a good word like a good tree, whose root is firmly fixed and its branches [high] in the sky?

Chẳng lẻ ngươi không biết - hỡi Thiên Sứ - Allah đưa ra hình ảnh về Thuyết Độc Thần như thế nào sao! câu đó là: không có Thượng Đế nào đích thực ngoài Allah, nó như hình ảnh một loại cây tốt và đó là cây chà là, thân nó bám chặt mặt đất với hàng đống rể cắm sâu vững chắc để hút nước, nhánh của nó thì vươn cao lên trời để hút sương, và hít lấy không khí trong lành

14:25Page 259

تُؤۡتِيٓ أُكُلَهَا كُلَّ حِينِۭ بِإِذۡنِ رَبِّهَاۗ وَيَضۡرِبُ ٱللَّهُ ٱلۡأَمۡثَالَ لِلنَّاسِ لَعَلَّهُمۡ يَتَذَكَّرُونَ ٢٥

It produces its fruit all the time, by permission of its Lord. And Allāh presents examples for the people that perhaps they will be reminded.

Loại cây tốt đẹp này sẽ cho ra trái cây tươi tốt vào mỗi giờ theo lệnh của Thượng Đế, và Allah đưa ra hình ảnh đó để nhân loại thấy mà may ra họ biết ghi nhớ

14:26Page 259

وَمَثَلُ كَلِمَةٍ خَبِيثَةٖ كَشَجَرَةٍ خَبِيثَةٍ ٱجۡتُثَّتۡ مِن فَوۡقِ ٱلۡأَرۡضِ مَا لَهَا مِن قَرَارٖ ٢٦

And the example of a bad word is like a bad tree, uprooted from the surface of the earth, not having any stability.

Và hình ảnh về câu nói Shirk là xấu xa như hình ảnh của một loại cây xấu, và đó là cây dưa. Rễ của nó nhô lên, không bám chặt vào đất, và cũng không vươn cao lên bầu trời, nó sẽ chết và bị thổi bay bởi cơn gió. Rồi lời nói bất tin sẽ bị tan biến, và dù cho chủ nhân của lời nói bất tin có làm điều tốt đẹp thì nó cũng sẽ không đến được với Allah

14:27Page 259

يُثَبِّتُ ٱللَّهُ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ بِٱلۡقَوۡلِ ٱلثَّابِتِ فِي ٱلۡحَيَوٰةِ ٱلدُّنۡيَا وَفِي ٱلۡأٓخِرَةِۖ وَيُضِلُّ ٱللَّهُ ٱلظَّٰلِمِينَۚ وَيَفۡعَلُ ٱللَّهُ مَا يَشَآءُ ٢٧

Allāh keeps firm those who believe, with the firm word,1 in worldly life and in the Hereafter.2 And Allāh sends astray the wrongdoers. And Allāh does what He wills.

Allah củng cố vững chắc niềm tin cho những người có đức tin bằng câu nói Tawhid - Thuyết Độc Thần - vững chắc với trọn vẹn đức tin Iman trên cuộc sống trần gian cho đến khi họ chết đi và họ là những người có đức tin, và ở mảnh đất nhỏ bé trong ngôi mộ của họ khi được hỏi, và nó cũng sẽ củng cố vững chắc họ vào Ngày Sau. Và Allah sẽ bỏ mặc những kẻ làm điều sai quấy, bởi việc tổ hợp thần linh khác với Allah, và phủ nhận những gì đúng đắn và chỉ đạo. Allah làm những gì Ngài muốn, bằng sự công bằng Ngài bỏ mặt ai Ngài muốn cho họ lầm đường lạc lối, và dẫn dắt ai Ngài muốn bằng hồng phúc của mình, vì Ngài không ép buộc bất cứ ai

14:28Page 259

۞ أَلَمۡ تَرَ إِلَى ٱلَّذِينَ بَدَّلُواْ نِعۡمَتَ ٱللَّهِ كُفۡرٗا وَأَحَلُّواْ قَوۡمَهُمۡ دَارَ ٱلۡبَوَارِ ٢٨

Have you not considered those who exchanged the favor of Allāh for disbelief1 and settled their people [in] the home of ruin?

Quả thật ngươi đã thấy tình trạng của những kẻ phủ nhận nơi Allah và các Sứ Giả của Ngài từ nhóm người Qurash khi họ quay lưng với ân phúc của Allah dành cho họ bằng việc tin tưởng những điều bị cấm, và với việc Muhammad {cầu xin sự bình an đến Người} được phái đến cùng họ, họ lại quay lưng với điều đó, phủ nhận ân phúc của Ngài khi họ không tin những gì Thượng Đế mang đến cho họ, rồi họ đưa những người theo họ vào nơi bị hủy diệt

14:29Page 259

جَهَنَّمَ يَصۡلَوۡنَهَاۖ وَبِئۡسَ ٱلۡقَرَارُ ٢٩

[It is] Hell, which they will [enter to] burn, and wretched is the settlement.

Nơi bị hủy diệt đó chính là Hỏa Ngục và họ sẽ bị đưa vào nơi đó, rồi họ sẽ biết được sức nóng của nó, và điều tồi tệ đó sẽ tiếp tục đến với họ

14:30Page 259

وَجَعَلُواْ لِلَّهِ أَندَادٗا لِّيُضِلُّواْ عَن سَبِيلِهِۦۗ قُلۡ تَمَتَّعُواْ فَإِنَّ مَصِيرَكُمۡ إِلَى ٱلنَّارِ ٣٠

And they have attributed to Allāh equals to mislead [people] from His way. Say, "Enjoy yourselves, for indeed, your destination is the Fire."

Và những kẻ thờ đa thần đặt Allah ngang bằng với thứ chúng thờ phượng nhằm dẫn dắt những người theo chúng lạc khỏi con đường của Allah. Hãy bảo chúng - hỡi Thiên Sứ - các ngươi cứ thưởng thức những gì các ngươi muốn, và hãy truyền bá điều đó trong cuộc sống trần gian này. Vì chắc chắn rằng nơi trở về của các ngươi vào Ngày Phục Sinh sẽ là Hỏa Ngục, không thể nào là nơi khác được

14:31Page 259

قُل لِّعِبَادِيَ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ يُقِيمُواْ ٱلصَّلَوٰةَ وَيُنفِقُواْ مِمَّا رَزَقۡنَٰهُمۡ سِرّٗا وَعَلَانِيَةٗ مِّن قَبۡلِ أَن يَأۡتِيَ يَوۡمٞ لَّا بَيۡعٞ فِيهِ وَلَا خِلَٰلٌ ٣١

[O Muḥammad], tell My servants who have believed to establish prayer and spend from what We have provided them, secretly and publicly, before a Day comes in which there will be no exchange [i.e., ransom], nor any friendships.

Ngươi - hỡi Thiên sứ - hãy bảo những người tin tưởng: Hỡi những người tin tưởng! Các ngươi hãy thực hiện việc dâng lễ nguyện một cách chu đáo, và hãy bố thí những bổng lộc mà Allah ban cho các ngươi bao gồm phần bố thí bắt buộc và tự nguyện, hãy làm kính đáo tránh mọi tai tiếng và thực hiện công khai để mọi người nhớ đến mà làm theo. Hãy làm những điều đó trước khi xảy đến Ngày mà không còn sự đổi trác và cứu giúp trước hình phạt của Allah, và cũng không còn tình bạn hữu để mà giúp đỡ lẫn nhau

14:32Page 259

ٱللَّهُ ٱلَّذِي خَلَقَ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضَ وَأَنزَلَ مِنَ ٱلسَّمَآءِ مَآءٗ فَأَخۡرَجَ بِهِۦ مِنَ ٱلثَّمَرَٰتِ رِزۡقٗا لَّكُمۡۖ وَسَخَّرَ لَكُمُ ٱلۡفُلۡكَ لِتَجۡرِيَ فِي ٱلۡبَحۡرِ بِأَمۡرِهِۦۖ وَسَخَّرَ لَكُمُ ٱلۡأَنۡهَٰرَ ٣٢

It is Allāh who created the heavens and the earth and sent down rain from the sky and produced thereby some fruits as provision for you and subjected for you1 the ships to sail through the sea by His command and subjected for you the rivers.

Allah là Đấng đã tạo ra các tầng trời và đất hoàn toàn không dựa trên cơ sở có sẵn, rồi Ngài cho mưa từ trên trời xuống, Ngài dùng nó để làm mọc ra các loại cây trái làm bổng lộc cho các ngươi - hỡi nhân loại -. Ngài đã chế ngự tàu thuyền cho các người để các ngươi thoải mái sử dụng nó, và Ngài đã chế ngự các dòng sông ngòi để các ngươi uống, và để phục vụ cho những đàn gia súc và mùa màng của các ngươi

14:33Page 259

وَسَخَّرَ لَكُمُ ٱلشَّمۡسَ وَٱلۡقَمَرَ دَآئِبَيۡنِۖ وَسَخَّرَ لَكُمُ ٱلَّيۡلَ وَٱلنَّهَارَ ٣٣

And He subjected for you the sun and the moon, continuous [in orbit], and subjected for you the night and the day.

Và Ngài cũng đã chế ngự mặt trăng và mặt trời để chúng tiếp tục quay theo đúng quỹ đạo, rồi Ngài lại chế ngự việc kết thúc của ngày và đêm, ban đêm để các ngươi ngủ ngon và nghỉ ngơi, còn ban ngày để các ngươi hoạt động và làm việc

14:34Page 260

وَءَاتَىٰكُم مِّن كُلِّ مَا سَأَلۡتُمُوهُۚ وَإِن تَعُدُّواْ نِعۡمَتَ ٱللَّهِ لَا تُحۡصُوهَآۗ إِنَّ ٱلۡإِنسَٰنَ لَظَلُومٞ كَفَّارٞ ٣٤

And He gave you from all you asked of Him.1 And if you should count the favor [i.e., blessings] of Allāh, you could not enumerate them. Indeed, mankind is [generally] most unjust and ungrateful.2

Và Ngài đã ban cho các ngươi tất cả những gì các ngươi yêu cầu, và kể cả những gì các ngươi không yêu cầu. Nếu như các ngươi có đếm ân huệ mà Allah đã ban cho thì các ngươi không tài nào đếm hết được, vì nó quá nhiều. Rồi khi nhắc lại điều đó cho các ngươi thấy thì quả thật con người thật là sai quấy, đa số chối bỏ ân huệ của Allah Đấng Đáng Ca Ngợi và Tối Cao

14:35Page 260

وَإِذۡ قَالَ إِبۡرَٰهِيمُ رَبِّ ٱجۡعَلۡ هَٰذَا ٱلۡبَلَدَ ءَامِنٗا وَٱجۡنُبۡنِي وَبَنِيَّ أَن نَّعۡبُدَ ٱلۡأَصۡنَامَ ٣٥

And [mention, O Muḥammad], when Abraham said, "My Lord, make this city [i.e., Makkah] secure and keep me and my sons away from worshipping idols.

Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy nhớ sau khi Ibrahim đã đưa Isma'il và mẹ của Người là bà Hajar đến sống ở thung lũng Makkah thì Ibrahim đã cầu xin: Lạy Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài hãy làm cho thành phố - Makkah - mà bề tôi đã đem gia đình mình sang định cư trở thành nơi yên bình, không có máu chảy, không ai bị đối xử bất công, và hãy tránh xa bề tôi và con cháu của bề tôi khỏi việc thờ phượng bụt tượng

14:36Page 260

رَبِّ إِنَّهُنَّ أَضۡلَلۡنَ كَثِيرٗا مِّنَ ٱلنَّاسِۖ فَمَن تَبِعَنِي فَإِنَّهُۥ مِنِّيۖ وَمَنۡ عَصَانِي فَإِنَّكَ غَفُورٞ رَّحِيمٞ ٣٦

My Lord, indeed they have led astray many among the people. So whoever follows me - then he is of me;1 and whoever disobeys me - indeed, You are [yet] Forgiving and Merciful.

Lạy Thượng Đế của bề tôi! Quả thật, những bục tượng đã làm lạc hướng nhiều người, nhất là khi con người cứ nghĩ chúng sẽ phù hộ cho họ, thế là họ bị chìm trong u mê đó và đã thờ phượng các bục tượng đó thay vì Allah. Tuy nhiên, những ai đi theo bề tôi trong việc tôn thờ Allah duy nhất và tuân lệnh Ngài, thì chắc chắn y là tín đồ của bề tôi. còn ai cãi lại, không theo bề tôi trong việc thờ phượng Ngài duy nhất và nghe theo Ngài, thì quả thật, Ngài - lạy Thượng Đế của bề tôi, Đấng tha thứ cho ai Ngài muốn - xin Ngài tha thứ và thương xót họ.

14:37Page 260

رَّبَّنَآ إِنِّيٓ أَسۡكَنتُ مِن ذُرِّيَّتِي بِوَادٍ غَيۡرِ ذِي زَرۡعٍ عِندَ بَيۡتِكَ ٱلۡمُحَرَّمِ رَبَّنَا لِيُقِيمُواْ ٱلصَّلَوٰةَ فَٱجۡعَلۡ أَفۡـِٔدَةٗ مِّنَ ٱلنَّاسِ تَهۡوِيٓ إِلَيۡهِمۡ وَٱرۡزُقۡهُم مِّنَ ٱلثَّمَرَٰتِ لَعَلَّهُمۡ يَشۡكُرُونَ ٣٧

Our Lord, I have settled some of my descendants in an uncultivated valley near Your sacred House, our Lord, that they may establish prayer. So make hearts among the people incline toward them and provide for them from the fruits that they might be grateful.

Lạy Thượng Đế của bầy tôi! Quả thật, bề tôi đã định cư con cháu của mình là Isma'il và con cháu của Y ở thung lũng Makkah không có đất trồng trọt, và không có nguồn nước kế bên Ngôi Đền Thiêng Liêng của Ngài. Lạy Thượng Đế của bầy tôi! bề tôi đã định cư con cháu của mình kế bên nó K'abah để chúng dâng lễ nguyện Salah nơi đó. Bởi vậy - lạy Thượng Đế - xin Ngài hãy làm cho tấm lòng của nhân loại vui mừng cho chúng khi đến mảnh đất này, bằng việc nuôi họ từ những hoa quả để họ có thể tạ ơn Ngài về ân phúc mà Ngài đã ban cho

14:38Page 260

رَبَّنَآ إِنَّكَ تَعۡلَمُ مَا نُخۡفِي وَمَا نُعۡلِنُۗ وَمَا يَخۡفَىٰ عَلَى ٱللَّهِ مِن شَيۡءٖ فِي ٱلۡأَرۡضِ وَلَا فِي ٱلسَّمَآءِ ٣٨

Our Lord, indeed You know what we conceal and what we declare, and nothing is hidden from Allāh on the earth or in the heaven.

Lạy Thượng Đế bầy tôi! Quả thật, Ngài biết tất cả những gì bầy tôi giấu giếm cũng như biết mọi điều bầy tôi bộc lộ, vì không thể giấu được Allah bất cứ điều gì trên trời và dưới đất, Ngài luôn biết rõ mọi thứ. Và bề tôi không thể giấu được Ngài về nhu cầu cần thiết và sự nghèo khổ của bầy tôi

14:39Page 260

ٱلۡحَمۡدُ لِلَّهِ ٱلَّذِي وَهَبَ لِي عَلَى ٱلۡكِبَرِ إِسۡمَٰعِيلَ وَإِسۡحَٰقَۚ إِنَّ رَبِّي لَسَمِيعُ ٱلدُّعَآءِ ٣٩

Praise to Allāh, who has granted to me in old age Ishmael and Isaac. Indeed, my Lord is the Hearer of supplication.

Mọi lời cám ơn và ngợi khen đều dâng lên Allah Đấng đã chấp thuận lời cầu xin của bề tôi mà ban cho bề tôi nằm trong những người lương thiện, và ban cho bề tôi đứa con lớn là Isma'il với vợ Hajar, và Ishaaq với vợ Sarah. Quả thật, Thượng Đế của bề tôi là Đấng Hằng Nghe lời cầu xin mà ai cầu xin Ngài

14:40Page 260

رَبِّ ٱجۡعَلۡنِي مُقِيمَ ٱلصَّلَوٰةِ وَمِن ذُرِّيَّتِيۚ رَبَّنَا وَتَقَبَّلۡ دُعَآءِ ٤٠

My Lord, make me an establisher of prayer, and [many] from my descendants. Our Lord, and accept my supplication.

Lạy Thượng Đế! Xin Ngài làm cho bề tôi thành một người thực hiện việc dâng lễ nguyện Salah hoàn thiện về mọi mặt, và cho cả con cháu của bề tôi cũng được như vậy. Lạy Thượng Đế của bầy tôi! Xin Ngài hãy đáp lại lời cầu xin của bề tôi và chấp nhận nó

14:41Page 260

رَبَّنَا ٱغۡفِرۡ لِي وَلِوَٰلِدَيَّ وَلِلۡمُؤۡمِنِينَ يَوۡمَ يَقُومُ ٱلۡحِسَابُ ٤١

Our Lord, forgive me and my parents and the believers the Day the account is established."

Lạy Thượng Đế của bầy tôi! Xin Ngài hãy tha thứ tội lỗi cho bề tôi, cho cha mẹ bề tôi (Người cầu xin điều đó trước khi biết rằng cha mình là kẻ thù của Allah, rồi khi phát hiện điều đó thì Người liền cắt đứt quan hệ với cha), và hãy tha thứ tội lỗi cho những người có đức tin vào Ngày mà con người sẽ được phục sinh sống dậy để xét xử trước Thượng Đế của họ

14:42Page 260

وَلَا تَحۡسَبَنَّ ٱللَّهَ غَٰفِلًا عَمَّا يَعۡمَلُ ٱلظَّٰلِمُونَۚ إِنَّمَا يُؤَخِّرُهُمۡ لِيَوۡمٖ تَشۡخَصُ فِيهِ ٱلۡأَبۡصَٰرُ ٤٢

And never think that Allāh is unaware of what the wrongdoers do. He only delays them [i.e., their account] for a Day when eyes will stare [in horror].

Và Ngươi - hỡi Sứ Giả - đừng nghỉ rằng khi Allah trì hoãn hình phạt đối với những kẻ sai quấy thì Ngài làm ngơ với những việc sai trái, dối trá, cự tuyệt con đường của Ngài và những việc sai quấy khác của họ. Không, Ngài luôn biết rõ tất cả điều đó, không điều gì có thể giấu được Ngài. Quả thật, Ngài hoãn lại hình phạt đối với họ cho đến Ngày Phục Sinh, đó là Ngày mà họ phải ngước lên sợ hãi những điều kinh dị mà họ thấy nó

14:43Page 261

مُهۡطِعِينَ مُقۡنِعِي رُءُوسِهِمۡ لَا يَرۡتَدُّ إِلَيۡهِمۡ طَرۡفُهُمۡۖ وَأَفۡـِٔدَتُهُمۡ هَوَآءٞ ٤٣

Racing ahead, their heads raised up, their glance does not come back to them,1 and their hearts are void.

Khi con người được kêu dậy khỏi ngôi mộ của họ thì họ nhanh chóng chảy đến bên người kêu gọi, họ ngẩn đầu đăm chiêu nhìn lên trời, cặp mắt không hề quay sang nhìn mình, mà họ vẫn tiếp tục nhìn đăm đăm lên trời. Rồi tấm lòng của họ trống rộng không chút tâm trí, và họ cũng không hiểu gì về sự kinh hoàng của cảnh vật

14:44Page 261

وَأَنذِرِ ٱلنَّاسَ يَوۡمَ يَأۡتِيهِمُ ٱلۡعَذَابُ فَيَقُولُ ٱلَّذِينَ ظَلَمُواْ رَبَّنَآ أَخِّرۡنَآ إِلَىٰٓ أَجَلٖ قَرِيبٖ نُّجِبۡ دَعۡوَتَكَ وَنَتَّبِعِ ٱلرُّسُلَۗ أَوَلَمۡ تَكُونُوٓاْ أَقۡسَمۡتُم مِّن قَبۡلُ مَا لَكُم مِّن زَوَالٖ ٤٤

And, [O Muḥammad], warn the people of a Day when the punishment will come to them and those who did wrong will say, "Our Lord, delay us for a short term; we will answer Your call and follow the messengers." [But it will be said], "Had you not sworn, before, that for you there would be no cessation?1

Người - hỡi Thiên Sứ - hãy cho cộng đồng của Ngươi biết về sự đáng sợ về hình phạt của Allah vào Ngày Phục Sinh. Rồi những kẻ mà bản thân họ làm điều sai quấy bằng việc phủ nhận Allah và tổ hợp thần linh khác với Ngài sẽ nói: Lạy Thượng Đế của bầy tôi! Xin Ngài hãy nới lại, xin Ngài hãy trì hoãn lại hình phạt dành cho bầy tôi, và hãy cho bầy tôi trở lại trần gian với thời hạn ngắn thôi thì bầy tôi sẽ tin tưởng nơi Ngài, bầy tôi cũng sẽ làm theo những gì mà các Thiên Sứ được Ngài mặc khải xuống cho Họ. Allah đáp lại họ bằng sự khiển trách: Há chẳng phải các ngươi đã từng thề thốt ở trên trần gian rằng các ngươi sẽ không bị dịch chuyển từ cuộc sống trần gian đến Ngày Tận Thế hay sao, há chẳng phải các ngươi là những kẻ phủ nhận những điều được diễn ra sau cái chết đó ư !?

14:45Page 261

وَسَكَنتُمۡ فِي مَسَٰكِنِ ٱلَّذِينَ ظَلَمُوٓاْ أَنفُسَهُمۡ وَتَبَيَّنَ لَكُمۡ كَيۡفَ فَعَلۡنَا بِهِمۡ وَضَرَبۡنَا لَكُمُ ٱلۡأَمۡثَالَ ٤٥

And you lived among the dwellings of those who wronged themselves, and it had become clear to you how We dealt with them. And We presented for you [many] examples."

Và các ngươi đã ở những nơi mà những cộng đồng lầm lỗi thời trước các ngươi, tự bản thân họ đã gây lầm lỗi bằng việc phủ nhận Allah. Như cộng đồng của Hud, cộng đồng của Saleh, và TA đã nói rõ cho các ngươi biết về những gì mà TA đã trừng phạt họ. Rồi TA đưa ra những thí dụ cụ thể trong Kinh Sách của Allah để các ngươi rút kinh nghiệm, nhưng các ngươi chẳng rút ra được bài học gì từ nó.

14:46Page 261

وَقَدۡ مَكَرُواْ مَكۡرَهُمۡ وَعِندَ ٱللَّهِ مَكۡرُهُمۡ وَإِن كَانَ مَكۡرُهُمۡ لِتَزُولَ مِنۡهُ ٱلۡجِبَالُ ٤٦

And they had planned their plan, but with Allāh is [recorded] their plan, even if their plan had been [sufficient] to do away with the mountains.1

Và quả thật, những kẻ sinh sống ở nơi của những cộng đồng lầm lỗi trước đó, họ đã toan tính âm mưu giết hại Thiên Sứ Muhammad {cầu xin sự bình an đến Người}, và chối bỏ lời kêu gọi của Người. Nhưng Allah biết rõ sự toan tính của họ, không có bất cứ điều gì có thể che giấu được Ngài. Rồi sự tính toán của chúng trở nên yếu ớt, vì nó chưa thể lay chuyển nổi núi non và chưa thể làm lay chuyển những thứ khác, hoàn toàn trái ngược với hoạch định siêu việt của Allah.

14:47Page 261

فَلَا تَحۡسَبَنَّ ٱللَّهَ مُخۡلِفَ وَعۡدِهِۦ رُسُلَهُۥٓۚ إِنَّ ٱللَّهَ عَزِيزٞ ذُو ٱنتِقَامٖ ٤٧

So never think that Allāh will fail in His promise to His messengers. Indeed, Allāh is Exalted in Might and Owner of Retribution.1

Ngươi - hỡi Thiên Sứ - chớ nghĩ rằng khi Allah đã hứa sẽ giúp đỡ các Thiên Sứ của Ngài giành chiến thắng và hiển hành tôn giáo của Ngài rồi Ngài lại thất hứa với Họ. Quả thật, Allah là Đấng Toàn Năng không điều gì có thể chiến thắng được Ngài, Ngài nắm giữ mọi quyền hành, Ngài sẽ trừng phạt thích đáng những ai chống đối Ngài và các Thiên Sứ của Ngài.

14:48Page 261

يَوۡمَ تُبَدَّلُ ٱلۡأَرۡضُ غَيۡرَ ٱلۡأَرۡضِ وَٱلسَّمَٰوَٰتُۖ وَبَرَزُواْ لِلَّهِ ٱلۡوَٰحِدِ ٱلۡقَهَّارِ ٤٨

[It will be] on the Day the earth will be replaced by another earth, and the heavens [as well], and they [i.e., all creatures] will come out before Allāh, the One, the Prevailing,

Một hình phạt xác định giành cho những kẻ bất tin sẽ đến vào Ngày Phục Sinh, Ngày mà trái đất này sẽ hoàn toàn bị thay đổi bằng một trái đất khác với toàn màu trắng, và bầu trời cũng bị thay đổi bằng bầu trời khác, rồi con người sẽ tái sinh từ những ngôi mộ bằng những hình thể và những việc làm của họ để hiện diện trước mặt Allah, chỉ duy nhất tiếng nói và sự uy nghi của Ngài, Đấng Quyền Lực mà không ai có thể hơn được Ngài.

14:49Page 261

وَتَرَى ٱلۡمُجۡرِمِينَ يَوۡمَئِذٖ مُّقَرَّنِينَ فِي ٱلۡأَصۡفَادِ ٤٩

And you will see the criminals that Day bound together in irons,

Và Ngươi sẽ thấy - hỡi Thiên Sứ - Ngày mà trái đất sẽ bị thay thế bằng trái đất khác, và bầu trời cũng bị thay thế bằng bầu trời khác. Những kẻ bất tin và những kẻ thờ đa thần sẽ bị buộc chặt lại, tay và chân của họ sẽ bị xích lại bằng dây xích

14:50Page 261

سَرَابِيلُهُم مِّن قَطِرَانٖ وَتَغۡشَىٰ وُجُوهَهُمُ ٱلنَّارُ ٥٠

Their garments of liquid pitch and their faces covered by the Fire

Họ sẽ bị bắt mặc bộ đồ làm bằng dầu hắc (là một loại vật liệu dễ cháy), và trên khuôn mặt của họ sẽ bị bao phủ bằng lửa.

14:51Page 261

لِيَجۡزِيَ ٱللَّهُ كُلَّ نَفۡسٖ مَّا كَسَبَتۡۚ إِنَّ ٱللَّهَ سَرِيعُ ٱلۡحِسَابِ ٥١

So that Allāh will recompense every soul for what it earned. Indeed, Allāh is swift in account.

Để Allah thưởng, phạt cho mỗi linh hồn về những gì nó đã làm dù là điều tốt hay điều xấu. Quả thật Allah rất nhanh chóng trong việc xét xử cho những việc làm.

14:52Page 261

هَٰذَا بَلَٰغٞ لِّلنَّاسِ وَلِيُنذَرُواْ بِهِۦ وَلِيَعۡلَمُوٓاْ أَنَّمَا هُوَ إِلَٰهٞ وَٰحِدٞ وَلِيَذَّكَّرَ أُوْلُواْ ٱلۡأَلۡبَٰبِ ٥٢

This [Qur’ān] is notification for the people that they may be warned thereby and that they may know that He is but one God and that those of understanding will be reminded.

Qu'ran được mặc khải cho Muhammad {cầu xin sự bình an đến Người} là thông điệp từ Allah gởi đến nhân loại, và để cảnh báo từ hình phạt và lời hứa tối cao, và cũng để cho nhân loại biết quả thật chỉ có Allah duy nhất mới xứng đáng được thờ phượng, vì vậy chỉ thờ phượng riêng Ngài thôi, không được tổ hợp Ngài với bất cứ thứ gì. Đó là điều giành cho những ai có hiểu biết để suy ngẫm, vì quả thật họ là những người hữu ích về điều đó.

Text: Quranic Universal Library (Tarteel), via spa5k/tafsir_api (MIT), at a fixed version. The ayahs: Quran Foundation. Sources and licences

Contents

Ayat al-Kursi36Al-Kahfpage 42juz 15Bukhari 1Muslim 2999

Style

Theme
Text size
Layout

Читать на русском