Al-MukhtasarAl‑Qasas · 28:1–61

Al-Mukhtasar · Tafsir · in Vietnamese

القصص

Al-Qasas

The Stories · Meccan · 88 ayahs

28:1Page 385

طسٓمٓ ١

Ṭā, Seen, Meem.1

(Ta.Sin.Mim.) đã giải thích ở chương Al-Baqarah.

28:2Page 385

تِلۡكَ ءَايَٰتُ ٱلۡكِتَٰبِ ٱلۡمُبِينِ ٢

These are verses of the clear Book.

Đây là những câu Kinh Qur'an rất rõ ràng.

28:3Page 385

نَتۡلُواْ عَلَيۡكَ مِن نَّبَإِ مُوسَىٰ وَفِرۡعَوۡنَ بِٱلۡحَقِّ لِقَوۡمٖ يُؤۡمِنُونَ ٣

We recite to you from the news of Moses and Pharaoh in truth for a people who believe.

TA đọc cho Ngươi nghe về nguồn tin chính xác giữa Musa và Fir'awn (Pharaoh), một sự thật không gì phải nghi ngờ dành cho những người có đức tin, bởi họ là những người hưởng được điều hữu ích từ nguồn tin này.

28:4Page 385

إِنَّ فِرۡعَوۡنَ عَلَا فِي ٱلۡأَرۡضِ وَجَعَلَ أَهۡلَهَا شِيَعٗا يَسۡتَضۡعِفُ طَآئِفَةٗ مِّنۡهُمۡ يُذَبِّحُ أَبۡنَآءَهُمۡ وَيَسۡتَحۡيِۦ نِسَآءَهُمۡۚ إِنَّهُۥ كَانَ مِنَ ٱلۡمُفۡسِدِينَ ٤

Indeed, Pharaoh exalted himself in the land and made its people into factions, oppressing a sector among them, slaughtering their [newborn] sons and keeping their females alive. Indeed, he was of the corrupters.

Quả thật, Fir'awn là kẻ độc tài, hắn thống trị đất nước Ai Cập, hắn chia dân chúng thành nhiều nhóm nhỏ tách biệt, họ chính là dân Israel, hắn sát hại tất cả bé trai và giữ lại phụ nữ của họ để phục dịch trong sự nhục nhã. Rõ ràng hắn là một trong những kẻ tàn bạo trên trái đất với sự bất công, độc tài và ngạo mạn.

28:5Page 385

وَنُرِيدُ أَن نَّمُنَّ عَلَى ٱلَّذِينَ ٱسۡتُضۡعِفُواْ فِي ٱلۡأَرۡضِ وَنَجۡعَلَهُمۡ أَئِمَّةٗ وَنَجۡعَلَهُمُ ٱلۡوَٰرِثِينَ ٥

And We wanted to confer favor upon those who were oppressed in the land and make them leaders and make them inheritors

Và TA muốn ban phúc cho dân Israel bị tên Pha-ra-ông áp bức trong xứ Ai Cập bằng cách tiêu diệt kẻ thù của họ và loại bỏ sự áp bức khỏi họ, làm cho họ thành những nhà lãnh đạo chân chính, và để họ kế thừa vùng đất Sham (ngày nay được chia thành Palestine, Syria, Li Băng và Jordan) đầy hồng phúc sau khi tên độc tài Pha-ra-ông bị tiêu diệt, như Allah đã phán: {Rồi TA cho đám người yếu thế thừa kế vùng đất (Sham) nơi mà từ đông sang tây đều được TA ban phúc.}

28:6Page 386

وَنُمَكِّنَ لَهُمۡ فِي ٱلۡأَرۡضِ وَنُرِيَ فِرۡعَوۡنَ وَهَٰمَٰنَ وَجُنُودَهُمَا مِنۡهُم مَّا كَانُواْ يَحۡذَرُونَ ٦

And establish them in the land and show Pharaoh and [his minister] Hāmān and their soldiers through them1 that which they had feared.

Và TA muốn ban cho họ một vùng đất để sinh sống và tự quản lý, và làm cho Fir'awn và những tên đầu sỏ ủng hộ hắn, trong đó tên quyền lực nhất là Haman cùng với binh lính của chúng thấy được mối đe dọa khiến chúng lo lắng bị mất vương quyền và việc chúng sát hại bé trai của dân Israel.

28:7Page 386

وَأَوۡحَيۡنَآ إِلَىٰٓ أُمِّ مُوسَىٰٓ أَنۡ أَرۡضِعِيهِۖ فَإِذَا خِفۡتِ عَلَيۡهِ فَأَلۡقِيهِ فِي ٱلۡيَمِّ وَلَا تَخَافِي وَلَا تَحۡزَنِيٓۖ إِنَّا رَآدُّوهُ إِلَيۡكِ وَجَاعِلُوهُ مِنَ ٱلۡمُرۡسَلِينَ ٧

And We inspired to the mother of Moses, "Suckle him; but when you fear for him, cast him into the river and do not fear and do not grieve. Indeed, We will return him to you and will make him [one] of the messengers."

Và TA đã gởi đến mẹ của Musa lời phán rằng hãy cứ cho đứa con trai của ngươi bú sữa, đến khi ngươi lo sợ cho con trai mình bị Fir'awn và quân lính của hắn giết hại Y thì ngươi hãy để Y trong một chiếc rương rồi ném chiếc rương đó xuống sông Nile, nhưng ngươi chớ lo sợ Y bị chết chìm hay bị Fir'awn sát hại, và ngươi cũng đừng đau buồn vì phải chia cách Y. Chắc chắn TA sẽ mang Y còn sống trả lại cho ngươi, và đề cử Y làm Thiên Sứ cho TA giống như bao Thiên Sứ được TA gởi xuống cho nhân loại.

28:8Page 386

فَٱلۡتَقَطَهُۥٓ ءَالُ فِرۡعَوۡنَ لِيَكُونَ لَهُمۡ عَدُوّٗا وَحَزَنًاۗ إِنَّ فِرۡعَوۡنَ وَهَٰمَٰنَ وَجُنُودَهُمَا كَانُواْ خَٰطِـِٔينَ ٨

And the family of Pharaoh picked him up [out of the river] so that he would become to them an enemy and a [cause of] grief. Indeed, Pharaoh and Hāmān and their soldiers were deliberate sinners.

Vậy là nữ ta đã làm theo chỉ thị của TA mà đặt đứa con trai của mình trong một chiếc rương và ném nó xuống sông. Chiếc rương trôi dạt vào cung điện của Fir'awn và được người nhà của Fir'awn vớt lấy mang về nuôi. Đó là kết quả mà Allah muốn Musa sẽ trở thành kẻ thù của Fir'awn và Allah sẽ xóa bỏ vương quyền của hắn bằng bàn tay của Musa. Quả thật, Fir'awn cùng cận thần của hắn là Haman và binh lính của hai đứa chúng là những kẻ tội lỗi vì đã vô đức tin, bạo ngược và tàn phá trái đất.

28:9Page 386

وَقَالَتِ ٱمۡرَأَتُ فِرۡعَوۡنَ قُرَّتُ عَيۡنٖ لِّي وَلَكَۖ لَا تَقۡتُلُوهُ عَسَىٰٓ أَن يَنفَعَنَآ أَوۡ نَتَّخِذَهُۥ وَلَدٗا وَهُمۡ لَا يَشۡعُرُونَ ٩

And the wife of Pharaoh said, "[He will be] a comfort of the eye [i.e., pleasure] for me and for you. Do not kill him; perhaps he may benefit us, or we may adopt him as a son." And they perceived not.1

Và khi Fir'awn muốn giết đứa bé thì vợ của hắn lên tiếng: "Đứa bé này sẽ là một niềm vui cho thiếp và cho bệ hạ, xin Bệ hạ chớ giết chết Nó, biết đâu nó sẽ giúp ích cho chúng mình hoặc chúng mình sẽ nhận nó làm con nuôi." Tuy nhiên, họ nào biết vương quyền của họ sẽ bị đôi tay đứa trẻ này hủy diệt.

28:10Page 386

وَأَصۡبَحَ فُؤَادُ أُمِّ مُوسَىٰ فَٰرِغًاۖ إِن كَادَتۡ لَتُبۡدِي بِهِۦ لَوۡلَآ أَن رَّبَطۡنَا عَلَىٰ قَلۡبِهَا لِتَكُونَ مِنَ ٱلۡمُؤۡمِنِينَ ١٠

And the heart of Moses' mother became empty [of all else]. She was about to disclose [the matter concerning] him had We not bound fast her heart that she would be of the believers.

Và lòng của mẹ Musa trở nên trống rỗng không quan tâm đến bất kỳ việc gì của thế gian ngoại trừ việc sống chết của Musa, khiến nữ ta gần như không còn kiên nhẫn được nữa nên suýt đã tiết lộ câu chuyện về con trai mình. Nhưng TA đã cũng cố đức tin và kiên định tấm lòng của nữ lại để nữ trở thành một trong những người tin tưởng biết phó thác cho Thượng Đế và biết nhẫn nại trên những gì được Ngài định đoạt và an bài.

28:11Page 386

وَقَالَتۡ لِأُخۡتِهِۦ قُصِّيهِۖ فَبَصُرَتۡ بِهِۦ عَن جُنُبٖ وَهُمۡ لَا يَشۡعُرُونَ ١١

And she said to his sister, "Follow him"; so she watched him from a distance while they perceived not.

Sau khi mẹ Musa ném Y xuống sông thì nữ nói với chị gái của Y rằng: Con hãy bám theo dõi đứa em trai của con để con biết được những gì bọn chúng đang làm gì với Nó. Chính vì thế người chị đứng nhìn đứa em từ đằng xa để không bị phát hiện, kể cả Fir'awn và đồng bọn của hắn không thể nhận biết đó là chị gái của Musa đang theo dõi được tung tích của đứa em.

28:12Page 386

۞ وَحَرَّمۡنَا عَلَيۡهِ ٱلۡمَرَاضِعَ مِن قَبۡلُ فَقَالَتۡ هَلۡ أَدُلُّكُمۡ عَلَىٰٓ أَهۡلِ بَيۡتٖ يَكۡفُلُونَهُۥ لَكُمۡ وَهُمۡ لَهُۥ نَٰصِحُونَ ١٢

And We had prevented from him [all] wet nurses before,1 so she said, "Shall I direct you to a household that will be responsible for him for you while they are to him [for his upbringing] sincere?"

Với sự sắp đặt của Allah, Musa không bú sữa của bất cứ bà vú nào trước khi được đưa trở lại với mẹ. Người chị của Musa nhìn thấy sự quan tâm và lo lắng của họ trong việc muốn cho Y bú, nói: Quí ngài có muốn tiện nữ chỉ cho quí ngài một gia đình có thể cho đứa bé bú và chăm sóc nó hay không? Họ là những người chỉ cầu mong cho bé được mạnh khỏe.

28:13Page 386

فَرَدَدۡنَٰهُ إِلَىٰٓ أُمِّهِۦ كَيۡ تَقَرَّ عَيۡنُهَا وَلَا تَحۡزَنَ وَلِتَعۡلَمَ أَنَّ وَعۡدَ ٱللَّهِ حَقّٞ وَلَٰكِنَّ أَكۡثَرَهُمۡ لَا يَعۡلَمُونَ ١٣

So We restored him to his mother that she might be content and not grieve and that she would know that the promise of Allāh is true. But most of them [i.e., the people] do not know.

Bằng cách đó TA đã mang Musa trở về bên cạnh mẹ của Y để nữ vui lòng, không còn buồn phiền vì phải xa cách con trai, và để nữ biết rằng Lời Hứa của Allah về việc Ngài mang con trai của nữ trở về với nữ là sự thật không gì phải nghi ngờ, nhưng đa số bọn chúng không hề biết gì về Lời Hứa này cũng như không một ai biết rằng nữ là mẹ của Musa.

28:14Page 387

وَلَمَّا بَلَغَ أَشُدَّهُۥ وَٱسۡتَوَىٰٓ ءَاتَيۡنَٰهُ حُكۡمٗا وَعِلۡمٗاۚ وَكَذَٰلِكَ نَجۡزِي ٱلۡمُحۡسِنِينَ ١٤

And when he attained his full strength and was [mentally] mature, We bestowed upon him judgement and knowledge. And thus do We reward the doers of good.

Và khi Musa đến tuổi trưởng thành với thân thể cường tráng và biết vận dụng sức mạnh đó thì Y được TA ban cho trí thông minh và kiến thức hiểu biết rõ về tôn giáo của Israel trước khi là Thiên Sứ. TA đã khen thưởng Musa vì sự vâng lệnh của Y, và đó cũng là cách mà TA khen thưởng những người ngoan đạo ở mọi lúc và mọi nơi.

28:15Page 387

وَدَخَلَ ٱلۡمَدِينَةَ عَلَىٰ حِينِ غَفۡلَةٖ مِّنۡ أَهۡلِهَا فَوَجَدَ فِيهَا رَجُلَيۡنِ يَقۡتَتِلَانِ هَٰذَا مِن شِيعَتِهِۦ وَهَٰذَا مِنۡ عَدُوِّهِۦۖ فَٱسۡتَغَٰثَهُ ٱلَّذِي مِن شِيعَتِهِۦ عَلَى ٱلَّذِي مِنۡ عَدُوِّهِۦ فَوَكَزَهُۥ مُوسَىٰ فَقَضَىٰ عَلَيۡهِۖ قَالَ هَٰذَا مِنۡ عَمَلِ ٱلشَّيۡطَٰنِۖ إِنَّهُۥ عَدُوّٞ مُّضِلّٞ مُّبِينٞ ١٥

And he entered the city at a time of inattention by its people1 and found therein two men fighting: one from his faction and one from among his enemy. And the one from his faction called for help to him against the one from his enemy, so Moses struck him and [unintentionally] killed him. [Moses] said, "This is from the work of Satan. Indeed, he is a manifest, misleading enemy."

Và khi Musa đi vào thành phố lúc mọi người nghỉ ngơi trong nhà, Y thấy ở nơi đó có hai người đàn ông tranh luận và đánh nhau, một trong hai người thuộc phe bộ tộc Israel dân chúng của Musa, còn người kia thuộc phe Qibti dân chúng của Fir'awn kẻ thù của Musa. Người thuộc phe của Y nhờ Y tiếp sức để đánh lại người kia thuộc phe kẻ địch. Nhận lời Musa tiến đến đánh tên Qibti một đấm, với sức mạnh của mình đã giết chết tên kia. Musa liền sực tỉnh và nói: Đây là sự cám dỗ của Shaytan, quả thật Shaytan là kẻ thù công khai chuyên dụ dỗ đi lầm lạc đối với những ai thích theo hắn. Điều đó đã xảy ra với Ta, hắn khiến Ta bị lầm lạc.

28:16Page 387

قَالَ رَبِّ إِنِّي ظَلَمۡتُ نَفۡسِي فَٱغۡفِرۡ لِي فَغَفَرَ لَهُۥٓۚ إِنَّهُۥ هُوَ ٱلۡغَفُورُ ٱلرَّحِيمُ ١٦

He said, "My Lord, indeed I have wronged myself, so forgive me," and He forgave him. Indeed, He is the Forgiving, the Merciful.

Musa cầu khẩn Thượng Đế của Người, tỏ lòng ăn năn về những gì mình đã gây ra: Lạy Thượng Đế, bề tôi đã tự hại chính mình vì đã giết chết tên Qibti, xin Ngài hãy tha thứ tội lỗi của bề tôi. Tức thời Allah trình bày cho Musa biết Ngài đã tha thứ. Quả thật, Ngài sẵn sàng tha thứ cho những ai biết hối cải trong số bầy tôi của Ngài, Ngài luôn khoan dung với họ.

28:17Page 387

قَالَ رَبِّ بِمَآ أَنۡعَمۡتَ عَلَيَّ فَلَنۡ أَكُونَ ظَهِيرٗا لِّلۡمُجۡرِمِينَ ١٧

He said, "My Lord, for the favor You bestowed upon me, I will never be an assistant to the criminals."

Sau đó Musa tiếp tục lời cầu xin: Lạy Thượng Đế, với lý do được Ngài ban ân về sức mạnh, sự khôn ngoan và kiến thức cho nên bề tôi quyết sẽ không bao giờ tiếp tay cho những kẻ tội lỗi trong hành động tội tỗi của họ nữa.

28:18Page 387

فَأَصۡبَحَ فِي ٱلۡمَدِينَةِ خَآئِفٗا يَتَرَقَّبُ فَإِذَا ٱلَّذِي ٱسۡتَنصَرَهُۥ بِٱلۡأَمۡسِ يَسۡتَصۡرِخُهُۥۚ قَالَ لَهُۥ مُوسَىٰٓ إِنَّكَ لَغَوِيّٞ مُّبِينٞ ١٨

And he became inside the city fearful and anticipating [exposure], when suddenly the one who sought his help the previous day cried out to him [once again]. Moses said to him, "Indeed, you are an evident, [persistent] deviator."

Sau những gì đã xảy ra từ vụ giết chết một người Qibti khiến Musa một buổi sáng khi vào thành phố luôn sợ hãi, ngó chừng. Bỗng nhiên Y thấy kẻ đã yêu cầu mình tiếp tay ngày hôm qua lại yêu cầu tiếp tay cho hắn để đánh bại một người Qibti khác. Do đó Musa nói với hắn: Rõ thật ngươi là một tên chuyên dắt người ta đi lầm lạc một cách hiển nhiên.

28:19Page 387

فَلَمَّآ أَنۡ أَرَادَ أَن يَبۡطِشَ بِٱلَّذِي هُوَ عَدُوّٞ لَّهُمَا قَالَ يَٰمُوسَىٰٓ أَتُرِيدُ أَن تَقۡتُلَنِي كَمَا قَتَلۡتَ نَفۡسَۢا بِٱلۡأَمۡسِۖ إِن تُرِيدُ إِلَّآ أَن تَكُونَ جَبَّارٗا فِي ٱلۡأَرۡضِ وَمَا تُرِيدُ أَن تَكُونَ مِنَ ٱلۡمُصۡلِحِينَ ١٩

And when he wanted to strike the one who was an enemy to both of them, he1 said, "O Moses, do you intend to kill me as you killed someone yesterday? You only want to be a tyrant in the land and do not want to be of the amenders."

Và khi Musa muốn túm lấy tên Qibti, kẻ thù của Y và của người Israel, nhưng tên Israel lại nghĩ rằng Musa muốn tấn công hắn vì hắn nghe được Musa nói: {“Rõ thật, mày là một tên chuyên dắt người ta đi lạc!”} nên hắn nói với Musa: Mày muốn giết chết tao giống như mày đã giết chết một người ngày hôm qua hay sao, mày chỉ muốn là trở thành một tên tàn bạo trong xứ, giết người và áp bức họ chớ mày không muốn trở thành một người hòa giải giữa những kẻ đối địch nhau.

28:20Page 387

وَجَآءَ رَجُلٞ مِّنۡ أَقۡصَا ٱلۡمَدِينَةِ يَسۡعَىٰ قَالَ يَٰمُوسَىٰٓ إِنَّ ٱلۡمَلَأَ يَأۡتَمِرُونَ بِكَ لِيَقۡتُلُوكَ فَٱخۡرُجۡ إِنِّي لَكَ مِنَ ٱلنَّٰصِحِينَ ٢٠

And a man came from the farthest end of the city, running. He said, "O Moses, indeed the eminent ones are conferring over you [intending] to kill you, so leave [the city]; indeed, I am to you of the sincere advisors."

Và khi thông tin bị lan truyền ra thì có một người đàn ông ở cuối thành phố vì thương hại Musa đã nhanh chóng chạy đến và nói: Hỡi Musa, các vị tù trưởng của dân chúng Fir'awn đang họp nhau bàn về chuyện để giết Ngươi, vì vậy ta khuyên Ngươi hãy mau ra khỏi nơi này, ta lo sợ việc chúng truy sát Ngươi.

28:21Page 387

فَخَرَجَ مِنۡهَا خَآئِفٗا يَتَرَقَّبُۖ قَالَ رَبِّ نَجِّنِي مِنَ ٱلۡقَوۡمِ ٱلظَّٰلِمِينَ ٢١

So he left it, fearful and anticipating [apprehension]. He said, "My Lord, save me from the wrongdoing people."

Nghe theo lời khuyên của người đàn ông, Musa bỏ trốn đi nơi khác với tâm trạng lo sợ gặp phải chuyện không may nên Người cầu khẩn Thượng Đế của mình: Lạy Thượng Đế, xin Ngài giải cứu bề tôi thoát khỏi đám người làm điều sai quấy, khiến họ không hãm hại được bề tôi.

28:22Page 388

وَلَمَّا تَوَجَّهَ تِلۡقَآءَ مَدۡيَنَ قَالَ عَسَىٰ رَبِّيٓ أَن يَهۡدِيَنِي سَوَآءَ ٱلسَّبِيلِ ٢٢

And when he directed himself toward Madyan, he said, "Perhaps my Lord will guide me to the sound way."

Và khi Y đi về hướng của địa phận Madyan, Y nói: Không chừng Thượng Đế của Ta sẽ hướng dẫn Ta đi theo con đường tốt đẹp nhất, sẽ không khiến Ta đi lạc.

28:23Page 388

وَلَمَّا وَرَدَ مَآءَ مَدۡيَنَ وَجَدَ عَلَيۡهِ أُمَّةٗ مِّنَ ٱلنَّاسِ يَسۡقُونَ وَوَجَدَ مِن دُونِهِمُ ٱمۡرَأَتَيۡنِ تَذُودَانِۖ قَالَ مَا خَطۡبُكُمَاۖ قَالَتَا لَا نَسۡقِي حَتَّىٰ يُصۡدِرَ ٱلرِّعَآءُۖ وَأَبُونَا شَيۡخٞ كَبِيرٞ ٢٣

And when he came to the water [i.e., well] of Madyan, he found there a crowd of people watering [their flocks], and he found aside from them two women holding back [their flocks]. He said, "What is your circumstance?" They said, "We do not water until the shepherds dispatch [their flocks]; and our father is an old man."

Và khi Y đến địa điểm có nguồn nước mà dân chúng thường xuyên đến múc nước tại đó thuộc địa phận Madyan thì Y thấy có một đám người đang múc nước cho vật nuôi của họ uống. Và Y thấy hai người phụ nữ đang cố giữ đàn cừu của mình khỏi nguồn nước cho đến khi mọi người múc nước xong, vì vậy Musa đến hỏi hai nữ: Hai cô gặp chuyện gì sao không múc nước cùng với dân chúng vậy? Hai nữ trả lời: Chúng tôi thường chờ đợi mọi người múc nước và rời khỏi chỗ đó, để tránh hòa lẫn với họ, bởi cha của chúng tôi đã già yếu không thể múc nước cho đàn cừu uống được, chính vì vậy bắt buộc chúng tôi phải múc nước cho đàn cừu uống.

28:24Page 388

فَسَقَىٰ لَهُمَا ثُمَّ تَوَلَّىٰٓ إِلَى ٱلظِّلِّ فَقَالَ رَبِّ إِنِّي لِمَآ أَنزَلۡتَ إِلَيَّ مِنۡ خَيۡرٖ فَقِيرٞ ٢٤

So he watered [their flocks] for them; then he went back to the shade and said, "My Lord, indeed I am, for whatever good You would send down to me, in need."

Vì thương xót cho hai cô gái nên Musa ra tay múc nước giúp. Sau đó Người tiến về phía bóng cây để nghĩ ngơi, và tiếp đó Người cầu khẩn Thượng Đế của mình với mong muốn được giúp đỡ: Lạy Thượng Đế, bề tôi đang cần bất kỳ điều tốt nào mà Ngài sắp ban cho.

28:25Page 388

فَجَآءَتۡهُ إِحۡدَىٰهُمَا تَمۡشِي عَلَى ٱسۡتِحۡيَآءٖ قَالَتۡ إِنَّ أَبِي يَدۡعُوكَ لِيَجۡزِيَكَ أَجۡرَ مَا سَقَيۡتَ لَنَاۚ فَلَمَّا جَآءَهُۥ وَقَصَّ عَلَيۡهِ ٱلۡقَصَصَ قَالَ لَا تَخَفۡۖ نَجَوۡتَ مِنَ ٱلۡقَوۡمِ ٱلظَّٰلِمِينَ ٢٥

Then one of the two women came to him walking with shyness. She said, "Indeed, my father invites you that he may reward you for having watered for us." So when he came to him1 and related to him the story, he said, "Fear not. You have escaped from the wrongdoing people."

Khi hai cô gái trở về nhà kể lại sự việc với cha mình về việc làm của Người. Thế là người cha cử một trong hai con gái đi mời Người đến nhà. Cô gái đến gặp Musa với dáng vẻ ngượng ngùng, nói: Quả thật cha tôi mời anh đến gặp người để người ban thưởng anh về công ơn mà anh đã múc nước giúp chúng tôi. Musa đến gặp người cha của hai cô gái và kể lại cho ông ta nghe về câu chuyện của mình. Nghe xong ông trấn an Người: Chớ sợ hãi, cậu đã thoát khỏi binh lính ác ôn của tên Fir'awn rồi. Quả thật, bọn họ không có quyền hành trên vùng đất Madyan này, lại càng không thể gây hại được cậu.

28:26Page 388

قَالَتۡ إِحۡدَىٰهُمَا يَٰٓأَبَتِ ٱسۡتَـٔۡجِرۡهُۖ إِنَّ خَيۡرَ مَنِ ٱسۡتَـٔۡجَرۡتَ ٱلۡقَوِيُّ ٱلۡأَمِينُ ٢٦

One of the women said, "O my father, hire him. Indeed, the best one you can hire is the strong and the trustworthy."

Do đó, một trong hai cô con gái của ông lão thưa: Thưa cha, xin cha thuê anh ấy chăn nuôi đàn cừu cho chúng ta, thật sự anh ta rất xứng đáng để cha thuê giúp việc, vì anh ta có được sức khỏe và trung tín, với sức khỏe anh ta có thể hoàn thành những gì anh ta được yêu cầu, với lòng trung tín anh ta có thể giữ gìn những gì được giao phó.

28:27Page 388

قَالَ إِنِّيٓ أُرِيدُ أَنۡ أُنكِحَكَ إِحۡدَى ٱبۡنَتَيَّ هَٰتَيۡنِ عَلَىٰٓ أَن تَأۡجُرَنِي ثَمَٰنِيَ حِجَجٖۖ فَإِنۡ أَتۡمَمۡتَ عَشۡرٗا فَمِنۡ عِندِكَۖ وَمَآ أُرِيدُ أَنۡ أَشُقَّ عَلَيۡكَۚ سَتَجِدُنِيٓ إِن شَآءَ ٱللَّهُ مِنَ ٱلصَّٰلِحِينَ ٢٧

He said, "Indeed, I wish to wed you one of these, my two daughters, on [the condition] that you serve me for eight years; but if you complete ten, it will be [as a favor] from you. And I do not wish to put you in difficulty. You will find me, if Allāh wills, from among the righteous."

Người cha của hai cô gái nói với Musa: Quả thật, bác muốn gả một trong hai đứa con gái này của bác cho cháu với tiền cưới Mahr là cháu phải chăn nuôi đàn cừu cho gia đình bác trong vòng tám năm, nhưng nếu cháu muốn trọn vẹn được mười năm thì đó là sự tự nguyện của cháu chứ không ép buộc cháu. Bởi vì thỏa thuận bắt buộc là trong tám năm và trên tám năm là việc làm tự nguyện. Do đó, bác không muốn ép buộc cháu để gây ra khó khăn cho cháu. Cháu sẽ thấy bác - Insha-Allah - là một người ngoan đạo làm tròn lời giao ước và không nuốt lời.

28:28Page 388

قَالَ ذَٰلِكَ بَيۡنِي وَبَيۡنَكَۖ أَيَّمَا ٱلۡأَجَلَيۡنِ قَضَيۡتُ فَلَا عُدۡوَٰنَ عَلَيَّۖ وَٱللَّهُ عَلَىٰ مَا نَقُولُ وَكِيلٞ ٢٨

[Moses] said, "That is [established] between me and you. Whichever of the two terms I complete - there is no injustice to me, and Allāh, over what we say, is Witness."

Musa đáp: Đó chính là lời giao ước giữa cháu và bác đã thỏa thuận, dù cháu hoàn thành bất cứ thời hạn nào trong hai thời hạn vừa nói: Tám năm hoặc mười năm là xem như cháu đã hoàn thành bổn phận. Do đó bác không được yêu cầu cháu làm nhiều hơn nữa, Allah là Đấng xem xét và chứng nhận cho điều chúng ta đã thỏa thuận.

28:29Page 389

۞ فَلَمَّا قَضَىٰ مُوسَى ٱلۡأَجَلَ وَسَارَ بِأَهۡلِهِۦٓ ءَانَسَ مِن جَانِبِ ٱلطُّورِ نَارٗاۖ قَالَ لِأَهۡلِهِ ٱمۡكُثُوٓاْ إِنِّيٓ ءَانَسۡتُ نَارٗا لَّعَلِّيٓ ءَاتِيكُم مِّنۡهَا بِخَبَرٍ أَوۡ جَذۡوَةٖ مِّنَ ٱلنَّارِ لَعَلَّكُمۡ تَصۡطَلُونَ ٢٩

And when Moses had completed the term and was traveling with his family, he perceived from the direction of the mount a fire. He said to his family, "Stay here; indeed, I have perceived a fire. Perhaps I will bring you from there [some] information or burning wood from the fire that you may warm yourselves."

Vì vậy, khi Musa hoàn thành đầy đủ thời hạn là mười năm thì Người cùng với gia đình rời Madyan trở về Ai Cập, Người thấy một ngọn lửa trên sườn núi Tur, Người bảo người nhà: Hãy dừng lại đây, Quả thật Ta thấy ngọn lửa ở đằng xa, Ta hi vọng sẽ mang về cho các người tin tức từ nó hoặc mang về cho các người một khúc củi cháy, hi vọng các người có thể sưởi ấm trong cơn lạnh.

28:30Page 389

فَلَمَّآ أَتَىٰهَا نُودِيَ مِن شَٰطِيِٕ ٱلۡوَادِ ٱلۡأَيۡمَنِ فِي ٱلۡبُقۡعَةِ ٱلۡمُبَٰرَكَةِ مِنَ ٱلشَّجَرَةِ أَن يَٰمُوسَىٰٓ إِنِّيٓ أَنَا ٱللَّهُ رَبُّ ٱلۡعَٰلَمِينَ ٣٠

But when he came to it, he was called from the right side of the valley in a blessed spot - from the tree,1 "O Moses, indeed I am Allāh, Lord of the worlds."

Do đó, khi Musa tiến đến chỗ của ngọn lửa thì Thượng Đế kêu gọi Người từ phía bên phải của thung lũng tại một vùng đất đã được Allah ban phúc từ một loại cây với lời phán rằng: Hỡi Musa, Quả thật TA là Allah,Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.

28:31Page 389

وَأَنۡ أَلۡقِ عَصَاكَۚ فَلَمَّا رَءَاهَا تَهۡتَزُّ كَأَنَّهَا جَآنّٞ وَلَّىٰ مُدۡبِرٗا وَلَمۡ يُعَقِّبۡۚ يَٰمُوسَىٰٓ أَقۡبِلۡ وَلَا تَخَفۡۖ إِنَّكَ مِنَ ٱلۡأٓمِنِينَ ٣١

And [he was told], "Throw down your staff." But when he saw it writhing as if it was a snake, he turned in flight and did not return.1 [Allāh said], "O Moses, approach and fear not. Indeed, you are of the secure.

Và Ngươi hãy ném cây gậy xuống theo lệnh Thượng Đế của mình, nhưng khi Y thấy cây gậy động đậy và di chuyển nhanh nhẹn giống như một con rắn thì Y quay mình bỏ chạy vì sợ hãi và không dám nhìn lại. Chính vì thế Thượng Đế gọi Người: Hỡi Musa, hãy bước đến gần và chớ sợ nó, chắc chắn Ngươi sẽ được an toàn trước nó và trước mọi điều khiến Ngươi sợ.

28:32Page 389

ٱسۡلُكۡ يَدَكَ فِي جَيۡبِكَ تَخۡرُجۡ بَيۡضَآءَ مِنۡ غَيۡرِ سُوٓءٖ وَٱضۡمُمۡ إِلَيۡكَ جَنَاحَكَ مِنَ ٱلرَّهۡبِۖ فَذَٰنِكَ بُرۡهَٰنَانِ مِن رَّبِّكَ إِلَىٰ فِرۡعَوۡنَ وَمَلَإِيْهِۦٓۚ إِنَّهُمۡ كَانُواْ قَوۡمٗا فَٰسِقِينَ ٣٢

Insert your hand into the opening of your garment; it will come out white, without disease. And draw in your arm close to you [as prevention] from fear, for those are two proofs from your Lord to Pharaoh and his establishment. Indeed, they have been a people defiantly disobedient."

Hãy áp bàn tay phải của Ngươi vào lòng ngực của Ngươi, khi rút tay ra sẽ trở thành trắng toát không phải vì bệnh bạch tạng. Vì vậy Musa áp bàn tay vào lòng ngực và khi rút ra thì nó trắng toát giống như tuyết; và Ngươi hãy khép cánh tay vào cạnh sườn của Ngươi để làm mất đi sự sợ hãi của Ngươi. Vì vậy Musa khép nó vào cạnh sườn của Người thì lập tức sự sợ hãi đã biến mất. Với cây gậy và bàn tay là hai bằng chứng mà Thượng Đế của Người gởi đến trình bày cho Fir'awn và các vị tù trưởng của hắn. Quả thật chúng là một đám người không thần phục Allah, chúng phủ nhận và công khai phạm tội.

28:33Page 389

قَالَ رَبِّ إِنِّي قَتَلۡتُ مِنۡهُمۡ نَفۡسٗا فَأَخَافُ أَن يَقۡتُلُونِ ٣٣

He said, "My Lord, indeed I killed from among them someone, and I fear they will kill me.

Musa trình bày nỗi lo với Thượng Đế mình rằng: Quả thật bề tôi đã giết chết một người trong đám dân của họ. Do đó, bề tôi sợ họ sẽ giết bề tôi trả thù nếu bề tôi đi truyền đạt cho họ những điều mà Ngài cử phái bề tôi mang đến cho họ.

28:34Page 389

وَأَخِي هَٰرُونُ هُوَ أَفۡصَحُ مِنِّي لِسَانٗا فَأَرۡسِلۡهُ مَعِيَ رِدۡءٗا يُصَدِّقُنِيٓۖ إِنِّيٓ أَخَافُ أَن يُكَذِّبُونِ ٣٤

And my brother Aaron is more fluent than me in tongue, so send him with me as support, verifying me. Indeed, I fear that they will deny me."

Và người em của bề tôi là Harun, nó hoạt bát hơn bề tôi trong cách ăn nói. Do đó, xin Ngài hãy cử phái nó đi cùng bề tôi với tư cách là người hỗ trợ bề tôi để xác minh cho lời nói của bề tôi là thật. Quả thật, bề tôi sợ Fir'awn và đồng bọn của hắn sẽ buộc tội bề tôi nói dối, giống như việc các Thiên Sứ trước bề tôi đến với các cộng đồng của mình và ho đã phủ nhận.

28:35Page 389

قَالَ سَنَشُدُّ عَضُدَكَ بِأَخِيكَ وَنَجۡعَلُ لَكُمَا سُلۡطَٰنٗا فَلَا يَصِلُونَ إِلَيۡكُمَا بِـَٔايَٰتِنَآۚ أَنتُمَا وَمَنِ ٱتَّبَعَكُمَا ٱلۡغَٰلِبُونَ ٣٥

[Allāh] said, "We will strengthen your arm through your brother and grant you both supremacy so they will not reach you. [It will be] through Our signs; you and those who follow you will be the predominant."

Allah đáp ứng lời cầu xin của Musa, phán rằng: TA sẽ gia tăng sức mạnh cho Ngươi - hỡi Musa - bằng cách TA cử người anh của Ngươi, Harun, làm một Nabi để phụ tá Ngươi, và sẽ ban cho hai Ngươi quyền thế và sức mạnh khiến chúng không hãm hại được hai Ngươi, với những phép lạ của TA đã ban cho hai ngươi cũng như những người tin tưởng theo hai Ngươi chắc chắc sẽ thắng lợi.

28:36Page 390

فَلَمَّا جَآءَهُم مُّوسَىٰ بِـَٔايَٰتِنَا بَيِّنَٰتٖ قَالُواْ مَا هَٰذَآ إِلَّا سِحۡرٞ مُّفۡتَرٗى وَمَا سَمِعۡنَا بِهَٰذَا فِيٓ ءَابَآئِنَا ٱلۡأَوَّلِينَ ٣٦

But when Moses came to them with Our signs as clear evidences, they said, "This is not except invented magic, and we have not heard of this [religion] among our forefathers."

Rồi khi Musa đến gặp Fir'awn và đồng bọn của hắn với những lời mặc khải rõ rệt của TA, chúng nói: Đây chẳng qua là trò ảo thuật dối trá bịa đặt của Musa, bọn ta chưa bao giờ nghe chuyện này từ nơi tổ tiên của bọn ta trước đây.

28:37Page 390

وَقَالَ مُوسَىٰ رَبِّيٓ أَعۡلَمُ بِمَن جَآءَ بِٱلۡهُدَىٰ مِنۡ عِندِهِۦ وَمَن تَكُونُ لَهُۥ عَٰقِبَةُ ٱلدَّارِۚ إِنَّهُۥ لَا يُفۡلِحُ ٱلظَّٰلِمُونَ ٣٧

And Moses said, "My Lord is more knowing [than we or you] of who has come with guidance from Him and to whom will be succession in the home.1 Indeed, wrongdoers do not succeed."

Và Musa nói với Fir'awn: Thượng Đế của Ta biết rất rõ ai là người mang sự chỉ đạo từ Ngài đến và ai là người xứng đáng sẽ hưởng kết quả tốt đẹp trong cuộc sống Đời Sau. Quả thật những kẻ làm điều sai quấy sẽ không lấy được những gì chúng mong muốn cũng như không thoát khỏi điều mà chúng khiếp sợ.

28:38Page 390

وَقَالَ فِرۡعَوۡنُ يَٰٓأَيُّهَا ٱلۡمَلَأُ مَا عَلِمۡتُ لَكُم مِّنۡ إِلَٰهٍ غَيۡرِي فَأَوۡقِدۡ لِي يَٰهَٰمَٰنُ عَلَى ٱلطِّينِ فَٱجۡعَل لِّي صَرۡحٗا لَّعَلِّيٓ أَطَّلِعُ إِلَىٰٓ إِلَٰهِ مُوسَىٰ وَإِنِّي لَأَظُنُّهُۥ مِنَ ٱلۡكَٰذِبِينَ ٣٨

And Pharaoh said, "O eminent ones, I have not known you to have a god other than me. Then ignite for me, O Hāmān, [a fire] upon the clay1 and make for me a tower that I may look at the God of Moses. And indeed, I do think he is among the liars."

Và Fir'awn nói với các tù trưởng của hắn rằng: Hỡi quần thần, Ta không biết thần linh nào khác của các ngươi ngoài ta cả. Hỡi Haman, ngươi hãy đốt lò nung gạch đất sét cho trẫm cho đến khi nó chín lên và xây nó thành một cái tháp cao để trẫm đi lên trời và đứng trên đó gặp Thượng đế của Musa, và trẫm nghĩ rằng Musa chỉ là kẻ nói dối về những gì nó tự xưng là Thiên Sứ của Allah được cử phái đến cho trẫm cũng như cho dân chúng của trẫm.

28:39Page 390

وَٱسۡتَكۡبَرَ هُوَ وَجُنُودُهُۥ فِي ٱلۡأَرۡضِ بِغَيۡرِ ٱلۡحَقِّ وَظَنُّوٓاْ أَنَّهُمۡ إِلَيۡنَا لَا يُرۡجَعُونَ ٣٩

And he was arrogant, he and his soldiers, in the land, without right, and they thought that they would not be returned to Us.

Nhưng Fir'awn và đồng bọn của hắn tỏ ra rất kiêu ngạo, chúng thống trị đất nước Ai Cập bằng quyền lực cho nên chúng phủ nhận việc phục sinh, và nghĩ rằng chúng sẽ không bị đưa trở về gặp lại TA vào Ngày Phán Quyết để chịu sự thanh toán thưởng phạt.

28:40Page 390

فَأَخَذۡنَٰهُ وَجُنُودَهُۥ فَنَبَذۡنَٰهُمۡ فِي ٱلۡيَمِّۖ فَٱنظُرۡ كَيۡفَ كَانَ عَٰقِبَةُ ٱلظَّٰلِمِينَ ٤٠

So We took him and his soldiers and threw them into the sea.1 So see how was the end of the wrongdoers.

Bởi thế,TA đã túm bắt hắn và đồng bọn của hắn rồi ném tất cả bọn chúng xuống biển và nhấn chúng chết chìm. Do đó Ngươi hãy suy ngẫm - hỡi Thiên Sứ - về kết cuộc của những kẻ làm điều sai quấy kết thúc như thế nào, quả thực kết cuộc cuối cùng của chúng là bị tiêu diệt.

28:41Page 390

وَجَعَلۡنَٰهُمۡ أَئِمَّةٗ يَدۡعُونَ إِلَى ٱلنَّارِۖ وَيَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِ لَا يُنصَرُونَ ٤١

And We made them leaders1 inviting to the Fire, and on the Day of Resurrection they will not be helped.

Và TA đã làm cho Fir'awn và đồng bọn của hắn thành những nhà lãnh đạo cho các kẻ bạo ngược và kẻ lạc đạo chuyên gọi người đi vào Hỏa Ngục, theo sau chúng là những kẻ phủ nhận và lầm lạc. Và vào Ngày Phục Sinh, chúng sẽ không được ai giúp đỡ để thoát khỏi sự trừng phạt, đúng hơn, chúng sẽ bị trừng phạt gấp đôi khi chúng đã tạo ra đường lối xấu xa và kêu gọi đến với sự lầm lạc, cũng như chúng sẽ nhận được việc gánh nặng tội lỗi của chúng và tội lỗi của những người đi theo chúng.

28:42Page 390

وَأَتۡبَعۡنَٰهُمۡ فِي هَٰذِهِ ٱلدُّنۡيَا لَعۡنَةٗۖ وَيَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِ هُم مِّنَ ٱلۡمَقۡبُوحِينَ ٤٢

And We caused to overtake them in this world a curse, and on the Day of Resurrection they will be of the despised.1

Và TA đã tăng sự trừng phạt cho bọn chúng ở trên thế gian này với sự nhục nhã và xua đuổi, và vào Ngày Phục Sinh, chúng sẽ là những kẻ đáng khiển trách và bị trục xuất khỏi lòng thương xót của Allah.

28:43Page 390

وَلَقَدۡ ءَاتَيۡنَا مُوسَى ٱلۡكِتَٰبَ مِنۢ بَعۡدِ مَآ أَهۡلَكۡنَا ٱلۡقُرُونَ ٱلۡأُولَىٰ بَصَآئِرَ لِلنَّاسِ وَهُدٗى وَرَحۡمَةٗ لَّعَلَّهُمۡ يَتَذَكَّرُونَ ٤٣

And We gave Moses the Scripture, after We had destroyed the former generations, as enlightenment for the people and guidance and mercy that they might be reminded.

Quả thật TA (Allah) đã ban cho Musa Kinh Tawrah sau khi đã cử phái các Sứ Giả đến với các cộng đồng thời trước, nhưng đều bị họ cho là giả mạo, bởi thế TA đã tiêu diệt họ vì lý do họ đã phủ nhận các vị Sứ Giả. Kinh Tawrah sẽ soi sáng nhân loại thấy những điều hữu ích để họ làm và những điều làm thiệt thân để họ từ bỏ. Và Kinh Tawrah vừa là một Chỉ Đạo đến với sự tốt đẹp vừa là một hồng ân cho họ ở Đời này và kể cả Đời Sau để may ra nhờ đó mà họ ghi nhớ Allah về ân huệ Ngài ban cho họ và để họ biết tạ ơn Ngài cũng như tin tưởng nơi Ngài.

28:44Page 391

وَمَا كُنتَ بِجَانِبِ ٱلۡغَرۡبِيِّ إِذۡ قَضَيۡنَآ إِلَىٰ مُوسَى ٱلۡأَمۡرَ وَمَا كُنتَ مِنَ ٱلشَّٰهِدِينَ ٤٤

And you, [O Muḥammad], were not on the western side [of the mount] when We revealed to Moses the command, and you were not among the witnesses [to that].

Hỡi Thiên Sứ Muhammad - và Ngươi đã không có mặt ở phía tây gần ngọn núi Tur nơi mà Musa nhận quyết định công việc TA ra lệnh cử phái Y đi gặp Fir'awn và các vị tù trưởng của hắn và Ngươi cũng không là một nhân chứng của sự việc đó cho đến khi Ngươi biết được nguồn tin đó để kể lại cho nhân loại nghe, chính vì vậy nó (nguồn tin) là điều mặc khải của Allah dành cho Ngươi.

28:45Page 391

وَلَٰكِنَّآ أَنشَأۡنَا قُرُونٗا فَتَطَاوَلَ عَلَيۡهِمُ ٱلۡعُمُرُۚ وَمَا كُنتَ ثَاوِيٗا فِيٓ أَهۡلِ مَدۡيَنَ تَتۡلُواْ عَلَيۡهِمۡ ءَايَٰتِنَا وَلَٰكِنَّا كُنَّا مُرۡسِلِينَ ٤٥

But We produced [many] generations [after Moses], and prolonged was their duration.1 And you were not a resident among the people of Madyan, reciting to them Our verses, but We were senders [of this message].2

Và TA đã tạo ra những thế hệ khác sau Musa và cho họ ở lại lâu hơn cho đến khi họ quên lời giao ước của Allah; và Ngươi (Muhammad) không phải là người sinh sống chung với cư dân của Madyan để Ngươi đọc cho họ nghe về những Lời mặc khải của TA, nhưng chính TA là Đấng đã cử phái Ngươi cũng như TA đã mặc khải cho Ngươi về nguồn tin của Musa cùng với cuộc sống của Y ở tại Madyan. Bởi thế Ngươi báo cho nhân loại biết về những điều mà Allah đã mặc khải cho Ngươi.

28:46Page 391

وَمَا كُنتَ بِجَانِبِ ٱلطُّورِ إِذۡ نَادَيۡنَا وَلَٰكِن رَّحۡمَةٗ مِّن رَّبِّكَ لِتُنذِرَ قَوۡمٗا مَّآ أَتَىٰهُم مِّن نَّذِيرٖ مِّن قَبۡلِكَ لَعَلَّهُمۡ يَتَذَكَّرُونَ ٤٦

And you were not at the side of the mount when We called [Moses] but [were sent] as a mercy from your Lord to warn a people to whom no warner had come before you that they might be reminded.

Và Ngươi cũng đã không ở bên sườn núi Tur khi TA gọi Musa và TA đã mặc khải cho Y điều mà TA đã mặc khải cho đến khi Ngươi thuật lại về điều đó. Tuy nhiên, TA cử phái Ngươi đến như là một Hồng ân từ Thượng Đế của Ngươi cho nhân loại. Vì vậy TA đã mặc khải cho Ngươi biết về nguồn tin đó để Ngươi cảnh báo một dân tộc mà trước Ngươi đã không có một vị Sứ Giả nào được cử đến cảnh báo họ may ra họ biết thức tỉnh và tin tưởng nơi những điều mặc khải từ Allah, Đấng Quang Vinh đã được Ngươi mang đến cho họ.

28:47Page 391

وَلَوۡلَآ أَن تُصِيبَهُم مُّصِيبَةُۢ بِمَا قَدَّمَتۡ أَيۡدِيهِمۡ فَيَقُولُواْ رَبَّنَا لَوۡلَآ أَرۡسَلۡتَ إِلَيۡنَا رَسُولٗا فَنَتَّبِعَ ءَايَٰتِكَ وَنَكُونَ مِنَ ٱلۡمُؤۡمِنِينَ ٤٧

And if not that a disaster should strike them for what their hands put forth [of sins] and they would say, "Our Lord, why did You not send us a messenger so we could have followed Your verses and been among the believers?"...1

Và nếu không cử phải đến với họ các vị Thiên Sứ thì khi chúng nhận được sự trừng phạt của Allah về lý do phủ nhận và việc làm tội lỗi, chúng sẽ oán trách Allah rằng:"Tại sao Ngài không cử một Sứ Giả đến với chúng tôi để chúng tôi tuân theo và thực hiện các lời mặc khải của Ngài cũng như chúng tôi sẽ trở thành những người tin tưởng làm theo chỉ thị của Ngài?" Nếu không vì lý do đó, TA đã vội trừng phạt chúng, nhưng TA đã trì hoãn cho đến khi TA tha thứ cho chúng và cử một Sứ giả đến với chúng.

28:48Page 391

فَلَمَّا جَآءَهُمُ ٱلۡحَقُّ مِنۡ عِندِنَا قَالُواْ لَوۡلَآ أُوتِيَ مِثۡلَ مَآ أُوتِيَ مُوسَىٰٓۚ أَوَلَمۡ يَكۡفُرُواْ بِمَآ أُوتِيَ مُوسَىٰ مِن قَبۡلُۖ قَالُواْ سِحۡرَانِ تَظَٰهَرَا وَقَالُوٓاْ إِنَّا بِكُلّٖ كَٰفِرُونَ ٤٨

But when the truth came to them from Us, they said, "Why was he not given like that which was given to Moses?" Did they not disbelieve in that which was given to Moses before? They said, "[They are but] two works of magic supporting each other,1 and indeed we are, in both, disbelievers."

Nhưng khi Muhammad mang Thông điệp từ Thượng đế của Y đến với Quraish thì những người Do Thái yêu cầu Y đưa ra bằng chứng này, chúng nói: Tại sao Muhammad không được ban cho Phép Lạ giống như Phép Lạ đã được ban cho Musa để khẳng định Y là Sứ Giả đến từ Thượng Đế của Y như: Bàn tay và cây gậy. Hỡi Thiên Sứ, Ngươi hãy đáp lại chúng: Há những người Do Thái cũng đã phủ nhận nơi những điều đã được ban cho Musa trước đây đó sao? Và chúng nói về Tawrah và Qur'an: Quả thật cả hai quyển Kinh này đều là ma thuật hỗ trợ lẫn nhau và chúng tôi không tin bất cứ cái nào.

28:49Page 391

قُلۡ فَأۡتُواْ بِكِتَٰبٖ مِّنۡ عِندِ ٱللَّهِ هُوَ أَهۡدَىٰ مِنۡهُمَآ أَتَّبِعۡهُ إِن كُنتُمۡ صَٰدِقِينَ ٤٩

Say, "Then bring a scripture from Allāh which is more guiding than either of them that I may follow it, if you should be truthful."

Hỡi Thiên Sứ Muhammad - Ngươi hãy bảo chúng: Thế các ngươi hãy mang một Kinh Sách từ Allah đến làm một Chỉ Đạo tốt hơn hai quyển kinh Tawrah và Qur'an này. Nếu các ngươi mang đến thì Ta (Muhammad) sẽ theo nó, nếu các ngươi nói thật trong lời tuyên bố của các ngươi rằng Tawrah và Qur'an là hai loại ma thuật.

28:50Page 391

فَإِن لَّمۡ يَسۡتَجِيبُواْ لَكَ فَٱعۡلَمۡ أَنَّمَا يَتَّبِعُونَ أَهۡوَآءَهُمۡۚ وَمَنۡ أَضَلُّ مِمَّنِ ٱتَّبَعَ هَوَىٰهُ بِغَيۡرِ هُدٗى مِّنَ ٱللَّهِۚ إِنَّ ٱللَّهَ لَا يَهۡدِي ٱلۡقَوۡمَ ٱلظَّٰلِمِينَ ٥٠

But if they do not respond to you - then know that they only follow their [own] desires. And who is more astray than one who follows his desire without guidance from Allāh? Indeed, Allāh does not guide the wrongdoing people.

Nhưng nếu bộ tộc Quraish không đáp lời Ngươi đã yêu cầu chúng đưa ra một Kinh Sách khác tốt hơn hai quyển kinh Tawrah và Qur'an này thì chắc chắn rằng việc chối bỏ của chúng không phải là lý do. Quả thật chúng chỉ làm theo sở thích và dục vọng của chúng mà thôi. Quả thật, không ai lầm lạc hơn những kẻ chỉ tuân theo dục vọng của mình thay vì tuân theo Chỉ Đạo của Allah. Quả thật Allah không hướng dẫn cho đám người làm điều sai quấy bởi sự phủ nhận Allah của chúng.

28:51Page 392

۞ وَلَقَدۡ وَصَّلۡنَا لَهُمُ ٱلۡقَوۡلَ لَعَلَّهُمۡ يَتَذَكَّرُونَ ٥١

And We have [repeatedly] conveyed to them the word [i.e., the Qur’ān] that they might be reminded.

Và chắc chắn TA làm cho những kẻ thờ đa thần và người Do Thái trong con cháu Israel biết rõ về câu chuyện của những cộng đồng thời trước cũng như TA đã trừng phạt chúng khi chúng phủ nhận các Sứ Giả của TA. Hi vọng chúng quan tâm đến vấn đề này và tin tưởng cho đến khi chúng sẽ không gặp phải sự trừng phạt giống như những người đó.

28:52Page 392

ٱلَّذِينَ ءَاتَيۡنَٰهُمُ ٱلۡكِتَٰبَ مِن قَبۡلِهِۦ هُم بِهِۦ يُؤۡمِنُونَ ٥٢

Those to whom We gave the Scripture before it - they1 are believers in it.

Những ai đã được TA củng cố đức tin Iman với Kinh Tawrah trước khi Kinh Qur'an được ban xuống. Họ chính là người Do Thái và Thiên Chúa giáo tin tưởng nơi Qur'an khi họ tìm thấy Nó trong Kinh sách của họ về những thông tin và đặc tính của Nó (Qur'an).

28:53Page 392

وَإِذَا يُتۡلَىٰ عَلَيۡهِمۡ قَالُوٓاْ ءَامَنَّا بِهِۦٓ إِنَّهُ ٱلۡحَقُّ مِن رَّبِّنَآ إِنَّا كُنَّا مِن قَبۡلِهِۦ مُسۡلِمِينَ ٥٣

And when it is recited to them, they say, "We have believed in it; indeed, it is the truth from our Lord. Indeed we were, [even] before it, Muslims [i.e., submitting to Allāh]."

Và khi Kinh Qur'an được đọc ra cho họ thì họ nói ngay: Chúng tôi tin tưởng vào Nó mà không nghi ngờ gì cả. Quả thật Nó là Chân lý đã được ban xuống từ Thượng Đế của chúng tôi. Thật sự trước khi Kinh Qur'an này được ban xuống, chúng tôi là những người Muslim tin tưởng về những điều được các Sứ Giả mang đến trước Nó.

28:54Page 392

أُوْلَٰٓئِكَ يُؤۡتَوۡنَ أَجۡرَهُم مَّرَّتَيۡنِ بِمَا صَبَرُواْ وَيَدۡرَءُونَ بِٱلۡحَسَنَةِ ٱلسَّيِّئَةَ وَمِمَّا رَزَقۡنَٰهُمۡ يُنفِقُونَ ٥٤

Those will be given their reward twice for what they patiently endured and [because] they avert evil through good, and from what We have provided them they spend.

Những người được mô tả như vậy thì Allah sẽ ban thưởng hai lần cho việc làm của họ: Vì kiên nhẫn với sự tin tưởng vào Kinh sách của họ và tin tưởng vào Thiên sứ Muhammad khi Ngài cử phái đến cũng như họ dùng những việc làm tốt đẹp để xóa bỏ đi những việc xấu xa qua những tội lỗi đã phạm, và chi dùng của cải mà TA đã cung cấp cho họ để làm việc thiện.

28:55Page 392

وَإِذَا سَمِعُواْ ٱللَّغۡوَ أَعۡرَضُواْ عَنۡهُ وَقَالُواْ لَنَآ أَعۡمَٰلُنَا وَلَكُمۡ أَعۡمَٰلُكُمۡ سَلَٰمٌ عَلَيۡكُمۡ لَا نَبۡتَغِي ٱلۡجَٰهِلِينَ ٥٥

And when they hear ill speech, they turn away from it and say, "For us are our deeds, and for you are your deeds. Peace will be upon you;1 we seek not the ignorant."

Và khi những người có đức tin nghe được thị dân kinh sách nói chuyện phi lý thì họ cáo lui quay mặt bỏ đi và nói: Chúng tôi có công việc của chúng tôi cũng như quí vị có công việc của quí vị. Chúc quí vị Bằng an từ cuộc trò chuyện, chúng tôi không muốn đồng hành với kẻ ngu dốt luôn gây tổn hại cho tôn giáo và thế gian.

28:56Page 392

إِنَّكَ لَا تَهۡدِي مَنۡ أَحۡبَبۡتَ وَلَٰكِنَّ ٱللَّهَ يَهۡدِي مَن يَشَآءُۚ وَهُوَ أَعۡلَمُ بِٱلۡمُهۡتَدِينَ ٥٦

Indeed, [O Muḥammad], you do not guide whom you like, but Allāh guides whom He wills. And He is most knowing of the [rightly] guided.

Hỡi Thiên Sứ Muhammad - quả thật Ngươi không hướng dẫn được ai mà Ngươi yêu thương để họ thành công đến với đức tin Iman chẳng hạn như Abu Talib và những người khác, ngược lai, Allah là Đấng Duy Nhất hoàn thành việc hướng dẫn cho người nào Ngài muốn. Và Ngài biết rõ nhất ai là những người sẽ được hướng dẫn đi theo con đường Chính Đạo.

28:57Page 392

وَقَالُوٓاْ إِن نَّتَّبِعِ ٱلۡهُدَىٰ مَعَكَ نُتَخَطَّفۡ مِنۡ أَرۡضِنَآۚ أَوَلَمۡ نُمَكِّن لَّهُمۡ حَرَمًا ءَامِنٗا يُجۡبَىٰٓ إِلَيۡهِ ثَمَرَٰتُ كُلِّ شَيۡءٖ رِّزۡقٗا مِّن لَّدُنَّا وَلَٰكِنَّ أَكۡثَرَهُمۡ لَا يَعۡلَمُونَ ٥٧

And they [i.e., the Quraysh] say, "If we were to follow the guidance with you, we would be swept1 from our land." Have We not established for them a safe sanctuary to which are brought the fruits of all things as provision from Us? But most of them do not know.

Và những kẻ đa thần trong dân chúng Makkah viện lý do không có đức tin Iman và không gia nhập Islam, họ nói: "Nếu bọn ta gia nhập Islam mà Ngươi mang đến thì bọn ta sẽ bị kẻ thù túm bắt giết chết bọn ta ở vùng đất này một cách nhanh chóng." Há TA (Allah) đã không thiết lập cho những kẻ đa thần một vùng đất (Makkah) an toàn, cấm sát hại làm đổ máu và cấm gây bất công cũng như chúng được an toàn trước sự công kích của người khác chống lại chúng, và chúng được mang đến đủ loại hoa quả như là bổng lộc của TA cho chúng hay sao? Nhưng đa số bọn chúng không biết những gì Allah ban Ân huệ cho chúng và chúng không biết ơn Ngài.

28:58Page 392

وَكَمۡ أَهۡلَكۡنَا مِن قَرۡيَةِۭ بَطِرَتۡ مَعِيشَتَهَاۖ فَتِلۡكَ مَسَٰكِنُهُمۡ لَمۡ تُسۡكَن مِّنۢ بَعۡدِهِمۡ إِلَّا قَلِيلٗاۖ وَكُنَّا نَحۡنُ ٱلۡوَٰرِثِينَ ٥٨

And how many a city have We destroyed that was insolent in its [way of] living, and those are their dwellings which have not been inhabited after them except briefly.1 And it is We who were the inheritors.

Và đa số dân cư của thị trấn đã phủ nhận Ân huệ của Allah và vượt quá mức giới hạn trong việc phạm tội nên TA đã giáng xuống họ sự trừng phạt và tiêu diệt toàn bộ. Đó nhà cửa của họ vẫn còn điêu tàn hoang phế, không ai ở đó sau khi đã bị hủy diệt ngoại trừ vài người qua đường. Và chính TA là Đấng sẽ thừa hưởng các tầng trời và trái đất cũng như tất cả vạn vật trong chúng.

28:59Page 392

وَمَا كَانَ رَبُّكَ مُهۡلِكَ ٱلۡقُرَىٰ حَتَّىٰ يَبۡعَثَ فِيٓ أُمِّهَا رَسُولٗا يَتۡلُواْ عَلَيۡهِمۡ ءَايَٰتِنَاۚ وَمَا كُنَّا مُهۡلِكِي ٱلۡقُرَىٰٓ إِلَّا وَأَهۡلُهَا ظَٰلِمُونَ ٥٩

And never would your Lord have destroyed the cities until He had sent to their mother [i.e., principal city] a messenger reciting to them Our verses. And We would not destroy the cities except while their people were wrongdoers.

Hỡi Thiên Sứ Muhammad - Thượng Đế của Ngươi đã không tiêu diệt bất cứ thị trấn nào cho đến khi Ngài gởi một Sứ Giả đến mỗi thị trấn lớn của nó giống như Ngài đã dựng lên Ngươi từ thị trấn mẹ (Makkah). Và TA (Allah) cũng không tiêu diệt dân cư của các thị trấn lúc họ là những người chính trực ở trên Chân lý; Ngài chỉ tiêu diệt họ khi nào họ là những kẻ làm điều sai quấy bởi sự vô đức tin và bất tuân.

28:60Page 393

وَمَآ أُوتِيتُم مِّن شَيۡءٖ فَمَتَٰعُ ٱلۡحَيَوٰةِ ٱلدُّنۡيَا وَزِينَتُهَاۚ وَمَا عِندَ ٱللَّهِ خَيۡرٞ وَأَبۡقَىٰٓۚ أَفَلَا تَعۡقِلُونَ ٦٠

And whatever thing you [people] have been given - it is [only for] the enjoyment of worldly life and its adornment. And what is with Allāh is better and more lasting; so will you not use reason?

Và những vật đã được Thượng Đế ban cho các ngươi chỉ là vật yêu thích tạm thời và là những thứ tô điểm cho cuộc sống trần tục này rồi nó sẽ biến mất, còn những gì ở nơi Allah ở Đời Sau mới là phần thưởng cao quý, nó sẽ tốt hơn và còn mãi. Thế các ngươi không hiểu được rằng những thứ còn mãi sẽ tốt hơn những thứ sớm tan biến ư?

28:61Page 393

أَفَمَن وَعَدۡنَٰهُ وَعۡدًا حَسَنٗا فَهُوَ لَٰقِيهِ كَمَن مَّتَّعۡنَٰهُ مَتَٰعَ ٱلۡحَيَوٰةِ ٱلدُّنۡيَا ثُمَّ هُوَ يَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِ مِنَ ٱلۡمُحۡضَرِينَ ٦١

Then is he whom We have promised a good promise which he will meet [i.e., obtain] like he for whom We provided enjoyment of worldly life [but] then he is, on the Day of Resurrection, among those presented [for punishment in Hell]?

Thế một người mà TA đã hứa sẽ ban thưởng Thiên Đàng ở Đời Sau và trong đó Y sẽ hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu có giống với kẻ mà TA đã cho hưởng thụ về của cải và những món trang hoàng trong đời sống trần tục này, sau đó vào Ngày Phục Sinh y sẽ được dựng sống lại để chịu tội trong Hỏa Ngục hay không?

Text: Quranic Universal Library (Tarteel), via spa5k/tafsir_api (MIT), at a fixed version. The ayahs: Quran Foundation. Sources and licences

Contents

Ayat al-Kursi36Al-Kahfpage 42juz 15Bukhari 1Muslim 2999

Style

Theme
Text size
Layout

Читать на русском