Al-Mukhtasar · Tafsir · in Vietnamese
Al-Baqarah 2:56–106
2:56Page 8
ثُمَّ بَعَثۡنَٰكُم مِّنۢ بَعۡدِ مَوۡتِكُمۡ لَعَلَّكُمۡ تَشۡكُرُونَ ٥٦
Then We revived you after your death that perhaps you would be grateful.
Sau đó, TA đã làm cho các ngươi sống lại từ cái chết của các ngươi mong rằng các ngươi biết tạ ơn Ngài về những ân huệ mà Ngài đã ban cho các ngươi.
2:57Page 8
وَظَلَّلۡنَا عَلَيۡكُمُ ٱلۡغَمَامَ وَأَنزَلۡنَا عَلَيۡكُمُ ٱلۡمَنَّ وَٱلسَّلۡوَىٰۖ كُلُواْ مِن طَيِّبَٰتِ مَا رَزَقۡنَٰكُمۡۚ وَمَا ظَلَمُونَا وَلَٰكِن كَانُوٓاْ أَنفُسَهُمۡ يَظۡلِمُونَ ٥٧
And We shaded you with clouds and sent down to you manna and quails, [saying], "Eat from the good things with which We have provided you." And they wronged Us not - but they were [only] wronging themselves.
Một trong những ân huệ mà TA đã ban cho các ngươi là TA đã gửi mây đến che mát các ngươi khỏi cái nóng của mặt trời khi nó chói rọi xuống trái đất, TA đã ban xuống cho các ngươi Al-Man (có người nói đó là các loại thực phẩm tốt lành như mật ong, và có người thì nói đó là những thực phẩm hảo hạng, cao cấp và quí hiếm từ chiếc bàn thực phẩm mà Allah đã ban xuống cho Nabi Ysa và các tông đồ của Người) cùng với Salwa (một loài chim nhỏ mà thịt của nó thơm ngon, có lời cho rằng đó là chim cút). TA đã phán bảo các ngươi hãy ăn thỏa thích từ những nguồn thực phẩm tốt lành mà TA đã ban cấp cho các ngươi. Và TA không hề bị mất giảm bất cứ điều gì từ việc chúng phủ nhận các ân huệ này của TA, tuy nhiên, chính chúng đã làm thiệt hại cho bản thân chúng vì chúng đã đánh mất phần ân phước và sẽ phải đối diện với sự trừng phạt.
2:58Page 9
وَإِذۡ قُلۡنَا ٱدۡخُلُواْ هَٰذِهِ ٱلۡقَرۡيَةَ فَكُلُواْ مِنۡهَا حَيۡثُ شِئۡتُمۡ رَغَدٗا وَٱدۡخُلُواْ ٱلۡبَابَ سُجَّدٗا وَقُولُواْ حِطَّةٞ نَّغۡفِرۡ لَكُمۡ خَطَٰيَٰكُمۡۚ وَسَنَزِيدُ ٱلۡمُحۡسِنِينَ ٥٨
And [recall] when We said, "Enter this city [i.e., Jerusalem] and eat from it wherever you will in [ease and] abundance, and enter the gate bowing humbly1 and say, 'Relieve us of our burdens [i.e., sins].' We will [then] forgive your sins for you, and We will increase the doers of good [in goodness and reward]."
Các ngươi hãy nhớ lại một trong các ân huệ mà Allah đã ban cho các ngươi khi Ngài phán với các ngươi: Hãy đi vào Jerusalem nơi có ngôi đền Thiêng Al-Maqdis và hãy ăn những gì tốt lành trong đó ở bất cứ nơi nào các ngươi muốn một cách thỏa thích, và khi đi vào trong đó thì các ngươi hãy cúi đầu phủ phục Allah và hãy luôn cầu xin Ngài với lời nguyện cầu: "lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài xóa tội của bầy tôi", TA sẽ đáp lại lời nguyện cầu của các ngươi và sẽ ban thêm cho những người làm tốt những phần thưởng tốt đẹp.
2:59Page 9
فَبَدَّلَ ٱلَّذِينَ ظَلَمُواْ قَوۡلًا غَيۡرَ ٱلَّذِي قِيلَ لَهُمۡ فَأَنزَلۡنَا عَلَى ٱلَّذِينَ ظَلَمُواْ رِجۡزٗا مِّنَ ٱلسَّمَآءِ بِمَا كَانُواْ يَفۡسُقُونَ ٥٩
But those who wronged changed [those words] to a statement other than that which had been said to them, so We sent down upon those who wronged a punishment [i.e., plague] from the sky because they were defiantly disobeying.
Những kẻ làm điều sai quấy đã thay đổi hành động và bóp méo lời nói, họ đi vào với tư thế bò trườn bằng lưng của họ và họ nói: hạt trên sợi tóc, ý trêu cợt với mệnh lệnh của Allah. Thế là Alalh đã giáng một tai họa từ trên trời xuống để trừng phạt họ bởi tội họ đã làm trái lệnh Ngài và có thái độ bỡn cợt với Ngài.
2:60Page 9
۞ وَإِذِ ٱسۡتَسۡقَىٰ مُوسَىٰ لِقَوۡمِهِۦ فَقُلۡنَا ٱضۡرِب بِّعَصَاكَ ٱلۡحَجَرَۖ فَٱنفَجَرَتۡ مِنۡهُ ٱثۡنَتَا عَشۡرَةَ عَيۡنٗاۖ قَدۡ عَلِمَ كُلُّ أُنَاسٖ مَّشۡرَبَهُمۡۖ كُلُواْ وَٱشۡرَبُواْ مِن رِّزۡقِ ٱللَّهِ وَلَا تَعۡثَوۡاْ فِي ٱلۡأَرۡضِ مُفۡسِدِينَ ٦٠
And [recall] when Moses prayed for water for his people, so We said, "Strike with your staff the stone." And there gushed forth from it twelve springs, and every people [i.e., tribe] knew its watering place. "Eat and drink from the provision of Allāh, and do not commit abuse on the earth, spreading corruption."
Các ngươi hãy nhớ lại ân huệ của Allah ban cho các ngươi khi mà các các ngươi trong cơn khát dữ dội nhưng lại không tìm thấy nguồn nước. Musa đã phủ phục cầu nguyện Thượng Đế của Y xin cho các ngươi nguồn nước. TA đã bảo Y đánh chiếc gậy của Y xuống một tảng đá, Y đã tuân lệnh làm theo, từ tảng đá đó phun ra mười hai dòng suối để làm nguồn nước cho mười hai bộ lạc của dân Isra-el các ngươi, mỗi dòng suối là nguồn nước dành riêng cho từng bộ lạc để các ngươi khỏi tranh giành và xung đột lẫn nhau. TA đã phán với các ngươi: "Các ngươi hãy ăn và uống từ bổng lộc của Allah ban cho các ngươi nhưng chớ có hành động bất tuân TA và chớ làm điều phá hoại và thối nát trên trái đất".
2:61Page 9
وَإِذۡ قُلۡتُمۡ يَٰمُوسَىٰ لَن نَّصۡبِرَ عَلَىٰ طَعَامٖ وَٰحِدٖ فَٱدۡعُ لَنَا رَبَّكَ يُخۡرِجۡ لَنَا مِمَّا تُنۢبِتُ ٱلۡأَرۡضُ مِنۢ بَقۡلِهَا وَقِثَّآئِهَا وَفُومِهَا وَعَدَسِهَا وَبَصَلِهَاۖ قَالَ أَتَسۡتَبۡدِلُونَ ٱلَّذِي هُوَ أَدۡنَىٰ بِٱلَّذِي هُوَ خَيۡرٌۚ ٱهۡبِطُواْ مِصۡرٗا فَإِنَّ لَكُم مَّا سَأَلۡتُمۡۗ وَضُرِبَتۡ عَلَيۡهِمُ ٱلذِّلَّةُ وَٱلۡمَسۡكَنَةُ وَبَآءُو بِغَضَبٖ مِّنَ ٱللَّهِۚ ذَٰلِكَ بِأَنَّهُمۡ كَانُواْ يَكۡفُرُونَ بِـَٔايَٰتِ ٱللَّهِ وَيَقۡتُلُونَ ٱلنَّبِيِّـۧنَ بِغَيۡرِ ٱلۡحَقِّۚ ذَٰلِكَ بِمَا عَصَواْ وَّكَانُواْ يَعۡتَدُونَ ٦١
And [recall] when you said, "O Moses, we can never endure one [kind of] food. So call upon your Lord to bring forth for us from the earth its green herbs and its cucumbers and its garlic and its lentils and its onions." [Moses] said, "Would you exchange what is better for what is less? Go into [any] settlement and indeed, you will have what you have asked." And they were covered with humiliation and poverty and returned with anger from Allāh [upon them]. That was because they [repeatedly] disbelieved in the signs of Allāh and killed the prophets without right. That was because they disobeyed and were [habitually] transgressing.
Hãy nhớ lại lúc các ngươi phủ nhận ân huệ của Thượng Đế của các ngươi, các ngươi chán ngán với các thực phẩm mà Allah đã ban xuống cho các ngươi từ Mann (loại thức uống giống như mật ong) và chim cút, các ngươi than rằng không thể chịu được một loại thức ăn này mãi không có gì thay đổi cả, các ngươi đòi hỏi Musa cầu xin Allah làm mọc ra cho các ngươi trên mặt đất như rau xanh, dưa leo, tỏi, đậu và hành tây để các ngươi làm thực phẩm. Musa đã đáp lại các ngươi bằng thái độ không chấp nhận yêu cầu đó: Chẳng lẽ các ngươi lại đòi những thứ tệ hơn và thua kém hơn những thứ mà Ngài đã ban cho các ngươi từ Mann và chim cút hay sao, trong khi cả hai loại thực phẩm này là nguồn thực phẩm hảo hạng cho các ngươi, nguồn thực phẩm này đến với các ngươi mà không cần phải mệt mỏi và quá tốn sức. Musa bảo các ngươi hãy rời khỏi vùng đất này mà đi đến bất cứ thị trấn nào khác, ở những nơi đó, các ngươi sẽ tìm thấy những thứ các ngươi yêu cầu, đòi hỏi ở các nương rẫy và các khu chợ. Bởi vì nuông chìu theo dục vọng và việc cứ lặp đi lặp lại hành động phủ nhận những lựa chọn của Allah dành riêng cho chúng nên Ngài đã làm cho chúng bị nghèo khó và cơ cực; và chúng còn phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Ngài cho việc đã chống lại tôn giáo của Ngài và việc phủ nhận các Lời Mặc Khải của Ngài cũng như việc chúng đã giết các vị Nabi của Ngài một cách bất công bởi lòng hận thù của chúng; và tất cả những hành động và việc làm đó của chúng đều là bất tuân và vượt quá mức giới hạn của Ngài.
2:62Page 10
إِنَّ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَٱلَّذِينَ هَادُواْ وَٱلنَّصَٰرَىٰ وَٱلصَّٰبِـِٔينَ مَنۡ ءَامَنَ بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ وَعَمِلَ صَٰلِحٗا فَلَهُمۡ أَجۡرُهُمۡ عِندَ رَبِّهِمۡ وَلَا خَوۡفٌ عَلَيۡهِمۡ وَلَا هُمۡ يَحۡزَنُونَ ٦٢
Indeed, those who believed and those who were Jews or Christians or Sabeans [before Prophet Muḥammad (ﷺ)] - those [among them] who believed in Allāh and the Last Day and did righteousness - will have their reward with their Lord, and no fear will there be concerning them, nor will they grieve1.
Những người tín đồ của cộng đồng này tức cộng đồng tín đồ của Muhammad và những tín đồ của những cộng đồng trước Muhammad từ Do Thái, Thiên Chúa và Sabian (một dân tộc trong quá khứ đã sống tại Musal (I-rắc), tôn thờ Allah và đọc Kinh Al-Zabur), ai trong số họ đi theo các vị Nabi của Allah bằng đức tin Iman nơi Allah và Ngày Phán Xử Cuối Cùng thì đều tìm thấy ân phước của mình nơi Thượng Đế của họ, họ sẽ không lo sợ khi đối mặt với cuộc sống cõi Đời Sau và cũng không buồn phiền về những mất mát trên cõi trần.
2:63Page 10
وَإِذۡ أَخَذۡنَا مِيثَٰقَكُمۡ وَرَفَعۡنَا فَوۡقَكُمُ ٱلطُّورَ خُذُواْ مَآ ءَاتَيۡنَٰكُم بِقُوَّةٖ وَٱذۡكُرُواْ مَا فِيهِ لَعَلَّكُمۡ تَتَّقُونَ ٦٣
And [recall] when We took your covenant, [O Children of Israel, to abide by the Torah] and We raised over you the mount, [saying], "Take what We have given you with determination and remember what is in it that perhaps you may become righteous."
Các ngươi hãy nhớ lại khi TA dã nhận Giáo Ước của các ngươi về việc các ngươi tin nơi TA và các vị Thiên Sứ của TA, và TA đã nhấc quả núi lên bên trên các ngươi để răn đe và cảnh báo những ai từ bỏ hành động theo Giao ước. TA đã ra lệnh cho các ngươi phải bám chặt lấy Kinh Tawrah không được hời hợt và xao lãng, và TA bảo các ngươi phải ghi nhớ những gì trong đó mong rằng với sự ngay chính đó các ngươi tránh được sự trừng phạt của TA.
2:64Page 10
ثُمَّ تَوَلَّيۡتُم مِّنۢ بَعۡدِ ذَٰلِكَۖ فَلَوۡلَا فَضۡلُ ٱللَّهِ عَلَيۡكُمۡ وَرَحۡمَتُهُۥ لَكُنتُم مِّنَ ٱلۡخَٰسِرِينَ ٦٤
Then you turned away after that. And if not for the favor of Allāh upon you and His mercy, you would have been among the losers.
Tuy nhiên, sau đó các ngươi lại nghịch đạo và trái lệnh và nếu như không do phúc đức và lòng khoan dung của Allah cho hành động vượt quá giới hạn của các ngươi cũng như nếu không do lòng thương xót của Ngài trong việc đón nhận sự sám hối của các ngươi thì chắc chắn các ngươi đã là những kẻ thất bại thảm hại.
2:65Page 10
وَلَقَدۡ عَلِمۡتُمُ ٱلَّذِينَ ٱعۡتَدَوۡاْ مِنكُمۡ فِي ٱلسَّبۡتِ فَقُلۡنَا لَهُمۡ كُونُواْ قِرَدَةً خَٰسِـِٔينَ ٦٥
And you had already known about those who transgressed among you concerning the sabbath, and We said to them, "Be apes, despised."
Quả thật, các ngươi biết rất rõ thông tin về cha ông của các ngươi khi họ bị cấm đánh bắt cá vào ngày thứ bảy thì họ đã giăng lưới vào ngày trước thứ bảy, rồi đợi đến ngày chủ nhật họ mới thu lượm cá mang về, thế là Allah cho họ biến thành những con khỉ, một hình phạt dành cho những ai bỡn cợt và gian xảo trước giới cấm của Ngài.
2:66Page 10
فَجَعَلۡنَٰهَا نَكَٰلٗا لِّمَا بَيۡنَ يَدَيۡهَا وَمَا خَلۡفَهَا وَمَوۡعِظَةٗ لِّلۡمُتَّقِينَ ٦٦
And We made it a deterrent punishment for those who were present and those who succeeded [them] and a lesson for those who fear Allāh.
TA đã trừng phạt cái thị trấn vượt giới hạn của TA để làm một bài học cho các thị trấn khác và cho những ai sau này và TA cũng lấy đó làm sự nhắc nhở đến những ai ngay chính sợ sự trừng phạt của TA.
2:67Page 10
وَإِذۡ قَالَ مُوسَىٰ لِقَوۡمِهِۦٓ إِنَّ ٱللَّهَ يَأۡمُرُكُمۡ أَن تَذۡبَحُواْ بَقَرَةٗۖ قَالُوٓاْ أَتَتَّخِذُنَا هُزُوٗاۖ قَالَ أَعُوذُ بِٱللَّهِ أَنۡ أَكُونَ مِنَ ٱلۡجَٰهِلِينَ ٦٧
And [recall] when Moses said to his people, "Indeed, Allāh commands you to slaughter a cow." They said, "Do you take us in ridicule?" He said, "I seek refuge in Allāh from being among the ignorant."
Các ngươi hãy nhớ lại thông tin về cha ông của các ngươi trước đây rằng khi Musa nói với họ: Allah ra lệnh cho các ngươi giết một còn bò cái thì họ lại giễu cợt nói với Người: há ngươi muốn lấy bọn ta ra làm trò đùa điên rồ ấy sao? Musa nói với họ rằng Người không hề nói dối và cũng không hề có ý bỡn cợt và Người cầu xin Allah phù hộ và che chở tránh khỏi những hạng người đó.
2:68Page 10
قَالُواْ ٱدۡعُ لَنَا رَبَّكَ يُبَيِّن لَّنَا مَا هِيَۚ قَالَ إِنَّهُۥ يَقُولُ إِنَّهَا بَقَرَةٞ لَّا فَارِضٞ وَلَا بِكۡرٌ عَوَانُۢ بَيۡنَ ذَٰلِكَۖ فَٱفۡعَلُواْ مَا تُؤۡمَرُونَ ٦٨
They said, "Call upon your Lord to make clear to us what it is." [Moses] said, "[Allāh] says, 'It is a cow which is neither old nor virgin, but median between that,' so do what you are commanded."
Họ bảo Musa cầu xin Allah trình bày rõ hơn về con bò mà Ngài ra lệnh cho họ giết. Musa nói với họ: Allah phán rằng đó là con bò cái tơ, không quá già cũng không quá non, giờ đã rõ thì các ngươi hãy mau thực hiện theo lệnh Ngài.
2:69Page 10
قَالُواْ ٱدۡعُ لَنَا رَبَّكَ يُبَيِّن لَّنَا مَا لَوۡنُهَاۚ قَالَ إِنَّهُۥ يَقُولُ إِنَّهَا بَقَرَةٞ صَفۡرَآءُ فَاقِعٞ لَّوۡنُهَا تَسُرُّ ٱلنَّٰظِرِينَ ٦٩
They said, "Call upon your Lord to show us what is her color." He said, "He says, 'It is a yellow cow, bright in color - pleasing to the observers.'"
Họ vẫn tiếp tục gây khó khăn cho Musa, họ đòi Người cầu xin Allah trình bày cụ thể hơn nữa về màu sắc của con bò. Musa bảo họ: Allah phán rằng đó là con bò màu vàng hung lông mượt làm cho người nhìn thích thú.
2:70Page 11
قَالُواْ ٱدۡعُ لَنَا رَبَّكَ يُبَيِّن لَّنَا مَا هِيَ إِنَّ ٱلۡبَقَرَ تَشَٰبَهَ عَلَيۡنَا وَإِنَّآ إِن شَآءَ ٱللَّهُ لَمُهۡتَدُونَ ٧٠
They said, "Call upon your Lord to make clear to us what it is. Indeed, [all] cows look alike to us. And indeed we, if Allāh wills, will be guided."
Rồi các ngươi vẫn không dừng lại, các ngươi vẫn tiếp tục yêu cầu Musa cầu xin Thượng Đế của Người cho biết thêm các thuộc tính của con bò cái và các ngươi bảo rằng vì con bò như đã được mô tả vẫn còn rất giống nhau, các ngươi chưa thể phân biệt được, lần này nếu như được trình bày thêm các đặc điểm của nó - insha-Allah các ngươi sẽ được hướng dẫn đến với con bò được yêu cầu.
2:71Page 11
قَالَ إِنَّهُۥ يَقُولُ إِنَّهَا بَقَرَةٞ لَّا ذَلُولٞ تُثِيرُ ٱلۡأَرۡضَ وَلَا تَسۡقِي ٱلۡحَرۡثَ مُسَلَّمَةٞ لَّا شِيَةَ فِيهَاۚ قَالُواْ ٱلۡـَٰٔنَ جِئۡتَ بِٱلۡحَقِّۚ فَذَبَحُوهَا وَمَا كَادُواْ يَفۡعَلُونَ ٧١
He said, "He says, 'It is a cow neither trained to plow the earth nor to irrigate the field, one free from fault with no spot upon her.'" They said, "Now you have come with the truth." So they slaughtered her, but they could hardly do it.
Musa nói với họ: quả thật Allah phán rằng đặc điểm của con bò được yêu cầu là nó không được bắt đi cày đất hay kéo nước vào ruộng, nó khỏe mạnh và lành lặn không có bất kỳ một khiếm khuyết và dị tật nào, và lông của nó vàng hung không có pha lẫn với bất cứ màu sắc nào khác. Lúc này, họ mới nói: giờ ngươi đã mô tả đặc điểm của con bò được yêu cầu rất rõ ràng và tỉ mỉ và mới chịu tiến hành giết con bò mặc dầu trước đó gần như không muốn làm.
2:72Page 11
وَإِذۡ قَتَلۡتُمۡ نَفۡسٗا فَٱدَّٰرَٰءۡتُمۡ فِيهَاۖ وَٱللَّهُ مُخۡرِجٞ مَّا كُنتُمۡ تَكۡتُمُونَ ٧٢
And [recall] when you slew a man and disputed1 over it, but Allāh was to bring out that which you were concealing.
Các ngươi hãy nhớ lại lúc các ngươi giết chết một người trong đám các ngươi nhưng mỗi người các ngươi đều chối bỏ mình liên can và tố cáo người khác, các ngươi tranh cãi nhau, nhưng rồi Allah đã làm sáng tỏ điều các ngươi che giấu.
2:73Page 11
فَقُلۡنَا ٱضۡرِبُوهُ بِبَعۡضِهَاۚ كَذَٰلِكَ يُحۡيِ ٱللَّهُ ٱلۡمَوۡتَىٰ وَيُرِيكُمۡ ءَايَٰتِهِۦ لَعَلَّكُمۡ تَعۡقِلُونَ ٧٣
So We said, "Strike him [i.e., the slain man] with part of it."1 Thus does Allāh bring the dead to life, and He shows you His signs that you might reason.
TA đã phán bảo các ngươi đánh nạn nhân bằng một phần của con bò cái mà các ngươi đã giết. Bằng cách đó, TA đã làm nạn nhân sống lại để khai tên của kẻ sát nhân. Các ngươi làm theo lời phán của TA và TA đã cho nạn nhân sống lại khai ra tên của kẻ sát nhân và đó là hình ảnh mà TA sẽ làm cho người chết sống lại từ cõi chết vào Ngày Phục Sinh. TA muốn cho các ngươi thấy các dấu hiệu rõ ràng về quyền năng của TA mong rằng các ngươi hiểu ra sự việc mà có đức tin thực sự nơi TA.
2:74Page 11
ثُمَّ قَسَتۡ قُلُوبُكُم مِّنۢ بَعۡدِ ذَٰلِكَ فَهِيَ كَٱلۡحِجَارَةِ أَوۡ أَشَدُّ قَسۡوَةٗۚ وَإِنَّ مِنَ ٱلۡحِجَارَةِ لَمَا يَتَفَجَّرُ مِنۡهُ ٱلۡأَنۡهَٰرُۚ وَإِنَّ مِنۡهَا لَمَا يَشَّقَّقُ فَيَخۡرُجُ مِنۡهُ ٱلۡمَآءُۚ وَإِنَّ مِنۡهَا لَمَا يَهۡبِطُ مِنۡ خَشۡيَةِ ٱللَّهِۗ وَمَا ٱللَّهُ بِغَٰفِلٍ عَمَّا تَعۡمَلُونَ ٧٤
Then your hearts became hardened after that, being like stones or even harder. For indeed, there are stones from which rivers burst forth, and there are some of them that split open and water comes out, and there are some of them that fall down for fear of Allāh. And Allāh is not unaware of what you do.
Nhưng rồi sau những lời khuyên cũng như những phép lạ, tấm lòng của họ lại trở nên chai cứng như đá, không, cứng còn hơn đá, tấm lòng của họ sẽ không bao giờ còn có thể thay đổi được nữa trong khi đá có thể thay đổi và biến chuyển bởi vì có loại đá từ đó các dòng sông phun ra, có loại đá nứt ra để nước trong đó chảy ra để làm nguồn lợi cho con người và loài vật, và có loại đá rơi xuống từ các ngọn núi cao vì sợ Allah, còn trái tim và tấm lòng của họ thì không như thế. Và Allah không phải không hay biết những điều họ làm mà Ngài am tường tất cả mọi thứ, rồi đây Ngài sẽ tưởng thưởng cho họ thích đáng theo những gì họ đã làm.
2:75Page 11
۞ أَفَتَطۡمَعُونَ أَن يُؤۡمِنُواْ لَكُمۡ وَقَدۡ كَانَ فَرِيقٞ مِّنۡهُمۡ يَسۡمَعُونَ كَلَٰمَ ٱللَّهِ ثُمَّ يُحَرِّفُونَهُۥ مِنۢ بَعۡدِ مَا عَقَلُوهُ وَهُمۡ يَعۡلَمُونَ ٧٥
Do you covet [the hope, O believers], that they would believe for you while a party of them used to hear the words of Allāh and then distort it [i.e., the Torah] after they had understood it while they were knowing?
Hỡi những người có đức tin! Có phải các ngươi đang hy vọng những người Do Thái sẽ có đức tin và đáp lại lời kêu gọi của các ngươi chăng? Quả thật đã có một nhóm người thuộc giới học giả và tu sĩ của họ nghe thấy Lời Phán của Allah được ban xuống cho họ trong Kinh Tawrah nhưng rồi họ đã thay đổi lời lẽ và nội dung trong đó sau khi họ đã thực sự hiểu trong khi họ biết rõ hành động đó của họ là đại trọng tội.
2:76Page 11
وَإِذَا لَقُواْ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ قَالُوٓاْ ءَامَنَّا وَإِذَا خَلَا بَعۡضُهُمۡ إِلَىٰ بَعۡضٖ قَالُوٓاْ أَتُحَدِّثُونَهُم بِمَا فَتَحَ ٱللَّهُ عَلَيۡكُمۡ لِيُحَآجُّوكُم بِهِۦ عِندَ رَبِّكُمۡۚ أَفَلَا تَعۡقِلُونَ ٧٦
And when they meet those who believe, they say, "We have believed"; but when they are alone with one another, they say, "Do you talk to them about what Allāh has revealed to you so they can argue with you about it before your Lord?" Then will you not reason?
Một trong những điều gian xảo của những người Do Thái là khi gặp những người có đức tin thì họ thừa nhận họ thực sự đã tin nơi Nabi Muhammad và nơi Bức Thông Điệp Người mang đến và họ bảo Kinh Tawrah đã xác nhận điều đó, nhưng khi họ ở riêng nhóm của họ thì họ trách cứ lẫn nhau sao lại để cho những người có đức tin biết những gì trong Tawrah để rồi họ có cái để tranh luận về sứ mạng của Muhammad.
2:77Page 12
أَوَلَا يَعۡلَمُونَ أَنَّ ٱللَّهَ يَعۡلَمُ مَا يُسِرُّونَ وَمَا يُعۡلِنُونَ ٧٧
But do they not know that Allāh knows what they conceal and what they declare?
Những người Do Thái này đi trên con đường sai trai đó chẳng lẽ họ tưởng rằng Allah không hay biết gì về những điều họ giấu giếm hay công khai từ lời nói và hành động của họ hay sao?
2:78Page 12
وَمِنۡهُمۡ أُمِّيُّونَ لَا يَعۡلَمُونَ ٱلۡكِتَٰبَ إِلَّآ أَمَانِيَّ وَإِنۡ هُمۡ إِلَّا يَظُنُّونَ ٧٨
And among them are unlettered ones who do not know the Scripture except [indulgement in] wishful thinking, but they are only assuming.
Trong số những người Do thái, có nhóm người chẳng biết gì về Kinh Tawrah, họ chẳng hiểu gì cả, những gì họ nói đều toàn là những lời nói dối bởi sự tự cao tự đại của họ và họ cứ tưởng đó là Kinh Tawrah mà Allah đã ban xuống.
2:79Page 12
فَوَيۡلٞ لِّلَّذِينَ يَكۡتُبُونَ ٱلۡكِتَٰبَ بِأَيۡدِيهِمۡ ثُمَّ يَقُولُونَ هَٰذَا مِنۡ عِندِ ٱللَّهِ لِيَشۡتَرُواْ بِهِۦ ثَمَنٗا قَلِيلٗاۖ فَوَيۡلٞ لَّهُم مِّمَّا كَتَبَتۡ أَيۡدِيهِمۡ وَوَيۡلٞ لَّهُم مِّمَّا يَكۡسِبُونَ ٧٩
So woe1 to those who write the "scripture" with their own hands, then say, "This is from Allāh," in order to exchange it for a small price. Woe to them for what their hands have written and woe to them for what they earn.
Sự hủy diệt và hình phạt khắc nghiệt đang đợi những người này, những người mà họ đã viết ra kinh sách bằng chính bàn tay của họ rồi dối trá rằng đó là Kinh Sách đến từ nơi Allah mục đích chỉ để đổi chác điều chần lý với một giá rẻ mạt của thế gian như của cải vật chất và quyền hành. Sự hủy diệt và hình phạt khắc nghiệt dành cho họ bởi những điều mà bàn tay của họ đã viết ra để dối lừa Allah và sự hủy diệt và hình phạt khắc nghiệt dành cho họ bởi những lợi lộc tầm thường mà họ kiếm được.
2:80Page 12
وَقَالُواْ لَن تَمَسَّنَا ٱلنَّارُ إِلَّآ أَيَّامٗا مَّعۡدُودَةٗۚ قُلۡ أَتَّخَذۡتُمۡ عِندَ ٱللَّهِ عَهۡدٗا فَلَن يُخۡلِفَ ٱللَّهُ عَهۡدَهُۥٓۖ أَمۡ تَقُولُونَ عَلَى ٱللَّهِ مَا لَا تَعۡلَمُونَ ٨٠
And they say, "Never will the Fire touch us, except for [a few] numbered days." Say, "Have you taken a covenant with Allāh? For Allāh will never break His covenant. Or do you say about Allāh that which you do not know?"
Họ (những người Do Thái) nói trong sự lừa dối và gian trá rằng họ sẽ không bao giờ phải chịu hình phạt trong Hỏa Ngục trừ một số ngày ít ỏi. Ngươi - Muhammad hãy bảo họ: Há các người khẳng định như thế là bởi vì các người đã nhận được lời hứa của Allah hay sao? Và chắc chắn sự việc không phải như vậy bởi Allah không bao giờ thất hứa. Hoặc chẳng lẽ các người muốn dối gạt cả Allah về những điều mà các ngươi không biết gì ư?
2:81Page 12
بَلَىٰۚ مَن كَسَبَ سَيِّئَةٗ وَأَحَٰطَتۡ بِهِۦ خَطِيٓـَٔتُهُۥ فَأُوْلَٰٓئِكَ أَصۡحَٰبُ ٱلنَّارِۖ هُمۡ فِيهَا خَٰلِدُونَ ٨١
Yes, [on the contrary], whoever earns evil and his sin has encompassed him - those are the companions of the Fire; they will abide therein eternally.
Sự việc không như những gì mà họ đã khẳng định bởi chắc chắn Allah sẽ trừng phạt tất cả những ai làm tội lỗi từ những việc làm vô đức tin và tội lỗi đã vây quanh con người họ; họ chắc chắn sẽ bị đày trong Hỏa Ngục và sẽ vĩnh viễn sống trong đó không có ngày trở ra, đó là điều hiển nhiên dành cho họ.
2:82Page 12
وَٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَعَمِلُواْ ٱلصَّٰلِحَٰتِ أُوْلَٰٓئِكَ أَصۡحَٰبُ ٱلۡجَنَّةِۖ هُمۡ فِيهَا خَٰلِدُونَ ٨٢
But they who believe and do righteous deeds - those are the companions of Paradise; they will abide therein eternally.
Những người có đức tin nơi Allah và nơi vị Thiên Sứ của Ngài đồng thời làm việc thiện tốt và hành đạo thì phần thưởng của họ nơi Allah là Thiên Đàng, họ sẽ vào sống mãi trong đó, và đó là điều hiển nhiên dành cho họ.
2:83Page 12
وَإِذۡ أَخَذۡنَا مِيثَٰقَ بَنِيٓ إِسۡرَٰٓءِيلَ لَا تَعۡبُدُونَ إِلَّا ٱللَّهَ وَبِٱلۡوَٰلِدَيۡنِ إِحۡسَانٗا وَذِي ٱلۡقُرۡبَىٰ وَٱلۡيَتَٰمَىٰ وَٱلۡمَسَٰكِينِ وَقُولُواْ لِلنَّاسِ حُسۡنٗا وَأَقِيمُواْ ٱلصَّلَوٰةَ وَءَاتُواْ ٱلزَّكَوٰةَ ثُمَّ تَوَلَّيۡتُمۡ إِلَّا قَلِيلٗا مِّنكُمۡ وَأَنتُم مُّعۡرِضُونَ ٨٣
And [recall] when We took the covenant from the Children of Israel, [enjoining upon them], "Do not worship except Allāh; and to parents do good and to relatives, orphans, and the needy. And speak to people good [words] and establish prayer and give zakāh." Then you turned away, except a few of you, and you were refusing.
Hãy nhớ lại hỡi người dân Israel về một giao ước chắc chắn mà TA đã giao kết với các ngươi là chỉ thờ phượng duy nhất Allah, tuyệt đối không thờ phượng bất cứ ai khác cùng với Ngài, đồng thời phải cư xử tốt với cha mẹ, với họ hàng, với trẻ mồ côi, với người nghèo thiếu thốn, cũng như việc phải nói năng với mọi người bằng lời lẽ tốt đẹp, ra lệnh làm điều tốt và ngăn cản làm điều sai trái bằng hình thức không thô bạo hoặc hà khắc. Ngoài ra, các ngươi phải thực hiện lễ nguyện Salah đầy đủ như TA đã truyền cho các ngươi, và trao của Zakah bằng cách giải ngân nó cho những người xứng đáng, một điều tốt cho bản thân các ngươi. Vậy mà sau khi giao ước này đã được thiết lập cho các ngươi thì các ngươi quay lưng chống đối, không chịu thực hiện nó, ngoại trừ những ai trong các ngươi được Allah phù hộ, họ mới hoàn thành giao ước và cam kết của mình với Ngài.
2:84Page 13
وَإِذۡ أَخَذۡنَا مِيثَٰقَكُمۡ لَا تَسۡفِكُونَ دِمَآءَكُمۡ وَلَا تُخۡرِجُونَ أَنفُسَكُم مِّن دِيَٰرِكُمۡ ثُمَّ أَقۡرَرۡتُمۡ وَأَنتُمۡ تَشۡهَدُونَ ٨٤
And [recall] when We took your covenant, [saying], "Do not shed your [i.e., each other's] blood or evict one another from your homes." Then you acknowledged [this] while you were witnessing.
Các ngươi hãy nhớ lại hỡi người dân Isra-el khi TA thiết lập giao ước với các ngươi trong Kinh Tawrah từ việc cấm các ngươi gây đổ máu cho nhau, cấm các ngươi xua đuổi nhau ra khỏi nhà cửa của các ngươi, các ngươi đã thừa nhận giao ước đó và các ngươi là những người làm chứng cho tính xác thực của nó.
2:85Page 13
ثُمَّ أَنتُمۡ هَٰٓؤُلَآءِ تَقۡتُلُونَ أَنفُسَكُمۡ وَتُخۡرِجُونَ فَرِيقٗا مِّنكُم مِّن دِيَٰرِهِمۡ تَظَٰهَرُونَ عَلَيۡهِم بِٱلۡإِثۡمِ وَٱلۡعُدۡوَٰنِ وَإِن يَأۡتُوكُمۡ أُسَٰرَىٰ تُفَٰدُوهُمۡ وَهُوَ مُحَرَّمٌ عَلَيۡكُمۡ إِخۡرَاجُهُمۡۚ أَفَتُؤۡمِنُونَ بِبَعۡضِ ٱلۡكِتَٰبِ وَتَكۡفُرُونَ بِبَعۡضٖۚ فَمَا جَزَآءُ مَن يَفۡعَلُ ذَٰلِكَ مِنكُمۡ إِلَّا خِزۡيٞ فِي ٱلۡحَيَوٰةِ ٱلدُّنۡيَاۖ وَيَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِ يُرَدُّونَ إِلَىٰٓ أَشَدِّ ٱلۡعَذَابِۗ وَمَا ٱللَّهُ بِغَٰفِلٍ عَمَّا تَعۡمَلُونَ ٨٥
Then, you are those [same ones who are] killing one another and evicting a party of your people from their homes, cooperating against them in sin and aggression. And if they come to you as captives, you ransom them, although their eviction was forbidden to you. So do you believe in part of the Scripture and disbelieve in part? Then what is the recompense for those who do that among you except disgrace in worldly life; and on the Day of Resurrection they will be sent back to the severest of punishment. And Allāh is not unaware of what you do.
Nhưng rồi các ngươi đã làm trái với giao ước của Allah, các ngươi đã giết hại lẫn nhau, các ngươi xua đuổi một thành phần trong các ngươi ra khỏi nhà cửa của họ, các ngươi tiếp tay cho kẻ thù chống lại họ bằng sự bất công và lòng hận thù, và khi họ rơi vào tay các ngươi như một tù binh thì các ngươi đòi tiền chuộc, các ngươi thừa biết các ngươi không có quyền đuổi họ ra khỏi nhà cửa của họ, việc làm đó của các ngươi bị cấm đoán. Sao các ngươi lại có thể tin một phần của Kinh Tawrah về việc bắt buộc chuộc tù binh nhưng lại phủ nhận một phần của Nó về việc gây ra sự đổ máu cũng như việc cấm xua đuổi nhau ra khỏi nhà cửa của các ngươi? Và những kẻ làm như thế chắc chắn sẽ bị trừng phạt một cách nhục nhã trên thế gian này và vào Ngày y còn phải chịu một hình phạt khác nặng nề hơn, và Allah không phải không hay biết những gì các ngươi làm mà thật ra Ngài đang theo dõi và quan sát các ngươi và Ngài sẽ trừng phạt các ngươi một cách thích đáng.
2:86Page 13
أُوْلَٰٓئِكَ ٱلَّذِينَ ٱشۡتَرَوُاْ ٱلۡحَيَوٰةَ ٱلدُّنۡيَا بِٱلۡأٓخِرَةِۖ فَلَا يُخَفَّفُ عَنۡهُمُ ٱلۡعَذَابُ وَلَا هُمۡ يُنصَرُونَ ٨٦
Those are the ones who have bought the life of this world [in exchange] for the Hereafter, so the punishment will not be lightened for them, nor will they be aided.
Những kẻ đó chính là những kẻ đã đổi chác cuộc sống trần gian với cuộc sống cõi Đời Sau, họ lấy cõi đời tiêu vọng tạm bợ để đổi lấy cõi đời vĩnh hằng. Bởi vậy, vào Ngày Sau họ sẽ không được giảm nhẹ bất cứ hình phạt nào và họ cũng sẽ không có được bất kỳ sự giúp đỡ nào trong Ngày Hôm đó.
2:87Page 13
وَلَقَدۡ ءَاتَيۡنَا مُوسَى ٱلۡكِتَٰبَ وَقَفَّيۡنَا مِنۢ بَعۡدِهِۦ بِٱلرُّسُلِۖ وَءَاتَيۡنَا عِيسَى ٱبۡنَ مَرۡيَمَ ٱلۡبَيِّنَٰتِ وَأَيَّدۡنَٰهُ بِرُوحِ ٱلۡقُدُسِۗ أَفَكُلَّمَا جَآءَكُمۡ رَسُولُۢ بِمَا لَا تَهۡوَىٰٓ أَنفُسُكُمُ ٱسۡتَكۡبَرۡتُمۡ فَفَرِيقٗا كَذَّبۡتُمۡ وَفَرِيقٗا تَقۡتُلُونَ ٨٧
And We did certainly give Moses the Scripture [i.e., the Torah] and followed up after him with messengers. And We gave Jesus, the son of Mary, clear proofs and supported him with the Pure Spirit [i.e., the angel Gabriel]. But is it [not] that every time a messenger came to you, [O Children of Israel], with what your souls did not desire, you were arrogant? And a party [of messengers] you denied and another party you killed.
Quả thật, TA đã ban cho Musa (Môi-se) Tawrah (Kinh Cựu Ước) và sau Y, TA đã cử phái các vị Thiên Sứ tiếp nối bước đường của Y, TA đã ban cho Ysa (Giê-su) con trai của Maryam những phép lạ để chứng minh sự trung thực của Y, chẳng hạn như làm cho người chết sống lại, làm sáng mắt cho bé bị mù bẩm sinh, chữa lành bệnh phong cùi, và TA đã hỗ trợ sức mạnh cho Y thông qua đại Thiên Thần Jibril (Gabriel). Lẽ nào, mỗi khi có vị Thiên Sứ nào đến với các ngươi - hỡi người dân Israel - theo mệnh lệnh của TA không thuận theo ý của các ngươi thì các ngươi lại tự cao tự đại trước chân lý và các ngươi xấc xược với Thiên Sứ của Allah, có nhóm (Thiên Sứ) các ngươi phủ nhận họ, và có nhóm các ngươi sát hại họ.
2:88Page 13
وَقَالُواْ قُلُوبُنَا غُلۡفُۢۚ بَل لَّعَنَهُمُ ٱللَّهُ بِكُفۡرِهِمۡ فَقَلِيلٗا مَّا يُؤۡمِنُونَ ٨٨
And they said, "Our hearts are wrapped."1 But, [in fact], Allāh has cursed them for their disbelief, so little is it that they believe.
Quả thật, lập luận của người Do Thái trong việc không theo Muhammad là chúng nói rằng: Trái tim của bọn ta đã bị đóng chặt, không điều gì Ngươi nói có thể chạm tới hoặc hiểu được. Nhưng thực tế không phải như chúng đã khẳng định mà thật ra việc chúng không tin là do Allah đã trục xuất chúng ra khỏi lòng nhân từ của Ngài bởi sự vô đức tin của chúng. Vì vậy, chúng chỉ tin một chút về những gì Allah đã thiên khải.
2:89Page 14
وَلَمَّا جَآءَهُمۡ كِتَٰبٞ مِّنۡ عِندِ ٱللَّهِ مُصَدِّقٞ لِّمَا مَعَهُمۡ وَكَانُواْ مِن قَبۡلُ يَسۡتَفۡتِحُونَ عَلَى ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ فَلَمَّا جَآءَهُم مَّا عَرَفُواْ كَفَرُواْ بِهِۦۚ فَلَعۡنَةُ ٱللَّهِ عَلَى ٱلۡكَٰفِرِينَ ٨٩
And when there came to them a Book [i.e., the Qur’ān] from Allāh confirming that which was with them - although before they used to pray for victory against those who disbelieved - but [then] when there came to them that which they recognized, they disbelieved in it; so the curse of Allāh will be upon the disbelievers.
Và khi Kinh Qur'an từ nơi Allah đến với họ (người dân Isra-el) tương đồng với những gì được nói trong Kinh Tawrah và Injil về những điều căn bản - và mặc dầu trước đó họ luôn nói: "chúng tôi sẽ giành thắng lợi đối với những người thờ đa thần khi nào một vị Nabi được phái đến, chúng tôi tin nơi Người và sẽ đi theo Người" - nhưng rồi khi Qur'an và Nabi Muhammad đến với họ đúng với những gì mà họ thừa nhận là đúng theo Kinh sách của họ thì họ lại quay lưng phủ nhận. Bởi thế, Allah nguyền rủa những kẻ vô đức tin nơi Allah và Thiên Sứ của Ngài.
2:90Page 14
بِئۡسَمَا ٱشۡتَرَوۡاْ بِهِۦٓ أَنفُسَهُمۡ أَن يَكۡفُرُواْ بِمَآ أَنزَلَ ٱللَّهُ بَغۡيًا أَن يُنَزِّلَ ٱللَّهُ مِن فَضۡلِهِۦ عَلَىٰ مَن يَشَآءُ مِنۡ عِبَادِهِۦۖ فَبَآءُو بِغَضَبٍ عَلَىٰ غَضَبٖۚ وَلِلۡكَٰفِرِينَ عَذَابٞ مُّهِينٞ ٩٠
How wretched is that for which they sold themselves - that they would disbelieve in what Allāh has revealed through [their] outrage that Allāh would send down His favor upon whom He wills from among His servants. So they returned having [earned] wrath upon wrath. And for the disbelievers is a humiliating punishment.
Thật xấu xa thay về việc họ đã bán đi linh hồn của mình khi nó đã từng có đức tin nơi Allah và Thiên Sứ của Ngài trước đó, họ phủ nhận những gì Allah ban xuống và phủ nhận các vị Thiên Sứ của Ngài chỉ vì lòng đố kỵ cho việc sứ mạng Nabi và Qur'an được ban xuống cho Muhammad. Cho nên, họ đáng bị sự phẫn nộ của Allah từ sự phẫn nộ này đến sự phẫn nộ khác chồng chất lên nhau do sự vô đức tin của họ nơi Muhammad và do sự bóp méo của họ về một số nội dung của Kinh Tawrah. Và những kẻ vô đức tin nơi sứ mạng Nabi của Muhammad sẽ bị trừng phạt một cách nhục nhã vào Ngày Phán Xét.
2:91Page 14
وَإِذَا قِيلَ لَهُمۡ ءَامِنُواْ بِمَآ أَنزَلَ ٱللَّهُ قَالُواْ نُؤۡمِنُ بِمَآ أُنزِلَ عَلَيۡنَا وَيَكۡفُرُونَ بِمَا وَرَآءَهُۥ وَهُوَ ٱلۡحَقُّ مُصَدِّقٗا لِّمَا مَعَهُمۡۗ قُلۡ فَلِمَ تَقۡتُلُونَ أَنۢبِيَآءَ ٱللَّهِ مِن قَبۡلُ إِن كُنتُم مُّؤۡمِنِينَ ٩١
And when it is said to them, "Believe in what Allāh has revealed," they say, "We believe [only] in what was revealed to us." And they disbelieve in what came after it, while it is the truth confirming that which is with them. Say, "Then why did you kill the prophets of Allāh before, if you are [indeed] believers?"
Khi có lời bảo những người Do Thái rằng các người hãy tin nơi những gì được ban xuống cho vị Thiên Sứ của Ngài - Muhammad từ chân lý và sự hướng dẫn thì họ nói họ chỉ tin nơi những gì được ban xuống cho các vị Nabi của họ và phủ nhận những gì được ban xuống cho Muhammad. Họ phủ nhận Qur'an mặc dù Qur'an đã tương đồng với những gì được nói trong Kinh Tawrah của họ. Và nếu họ thực sự tin nơi những gì được ban xuống cho họ trước đó thì chắc chắn họ đã tin nơi Qur'an. Này hỡi vị Nabi Muhammad! Ngươi hãy trả lời họ: Nếu các ngươi thực sự tin nơi các vị Nabi của các ngươi trước đây thì cớ vì sao các ngươi lại giết hại họ?
2:92Page 14
۞ وَلَقَدۡ جَآءَكُم مُّوسَىٰ بِٱلۡبَيِّنَٰتِ ثُمَّ ٱتَّخَذۡتُمُ ٱلۡعِجۡلَ مِنۢ بَعۡدِهِۦ وَأَنتُمۡ ظَٰلِمُونَ ٩٢
And Moses had certainly brought you clear proofs. Then you took the calf [in worship] after that, while you were wrongdoers.
Và quả thật, vị Thiên Sứ của các ngươi, Musa đã đến với các ngươi bằng những phép lạ để chứng minh sự trung thực của Người nhưng rồi sau đó, khi Người đi vắng thì các ngươi lấy con bò đúc ra làm thần linh để thờ phượng, họ thật là những người sai quấy khi làm điều Shirk với Allah trong khi Ngài là Đấng duy nhất đáng được thờ phượng, không ai (vật gì) ngoài Ngài có quyền đó cả.
2:93Page 14
وَإِذۡ أَخَذۡنَا مِيثَٰقَكُمۡ وَرَفَعۡنَا فَوۡقَكُمُ ٱلطُّورَ خُذُواْ مَآ ءَاتَيۡنَٰكُم بِقُوَّةٖ وَٱسۡمَعُواْۖ قَالُواْ سَمِعۡنَا وَعَصَيۡنَا وَأُشۡرِبُواْ فِي قُلُوبِهِمُ ٱلۡعِجۡلَ بِكُفۡرِهِمۡۚ قُلۡ بِئۡسَمَا يَأۡمُرُكُم بِهِۦٓ إِيمَٰنُكُمۡ إِن كُنتُم مُّؤۡمِنِينَ ٩٣
And [recall] when We took your covenant and raised over you the mount, [saying], "Take what We have given you with determination and listen." They said [instead], "We hear and disobey." And their hearts absorbed [the worship of] the calf because of their disbelief. Say, "How wretched is that which your faith enjoins upon you, if you should be believers."
Các ngươi hãy nhớ lại khi TA thiết lập giao ước cho các ngươi rằng các ngươi phải theo Musa và đón nhận những gì Y mang đến từ nơi Allah, và TA đã nhấc cao quả núi Saina' lên bên trên các ngươi đe dọa các ngươi và phán bảo các ngươi: hãy nắm thật chắc những gì mà TA đã ban xuống cho các ngươi trong Kinh Tawrah bằng sự nghe theo và nỗ lực chấp hành mệnh lệnh, bằng không TA sẽ cho quả núi đè lên các ngươi. Nhưng họ nói: chúng tôi nghe bằng đôi tai nhưng chúng tôi không làm. Hình ảnh con bò đã ăn sâu vào trong trái tim của họ bởi sự vô đức tin của họ. Này Muhammad, Ngươi hãy bảo họ: nếu các ngươi là những người có đức tin thì thật xấu xa thay cho đức tin khiến các ngươi phủ nhận Allah bởi lẽ đức tin đích thực không đi cùng với sự vô đức tin.
2:94Page 15
قُلۡ إِن كَانَتۡ لَكُمُ ٱلدَّارُ ٱلۡأٓخِرَةُ عِندَ ٱللَّهِ خَالِصَةٗ مِّن دُونِ ٱلنَّاسِ فَتَمَنَّوُاْ ٱلۡمَوۡتَ إِن كُنتُمۡ صَٰدِقِينَ ٩٤
Say, [O Muḥammad], "If the home of the Hereafter with Allāh is for you alone and not the [other] people, then wish for death, if you should be truthful."
Này hỡi Nabi Muhammad! Ngươi hãy nói với những người Do Thái rằng nếu Thiên Đàng ở cõi Đời Sau là nơi chỉ dành riêng cho họ chứ không cho ai khác trong nhân loại thì họ hãy mong cho được chết sớm để đạt được điều đó sớm hơn và để khỏi mệt mỏi nơi cõi trần nếu họ là những người nói thật về điều mà họ đã khẳng định.
2:95Page 15
وَلَن يَتَمَنَّوۡهُ أَبَدَۢا بِمَا قَدَّمَتۡ أَيۡدِيهِمۡۚ وَٱللَّهُ عَلِيمُۢ بِٱلظَّٰلِمِينَ ٩٥
But never will they wish for it, ever, because of what their hands have put forth. And Allāh is Knowing of the wrongdoers.
Chắc chắn sẽ không bao giờ họ dám mong được chết sớm bởi những tội lỗi mà họ đã làm trên thế gian từ việc vô đức tin nơi Allah, phủ nhận các vị Thiên Sứ của Ngài và bóp méo các Kinh Sách của Ngài; và Allah biết rõ những kẻ làm điều sai quấy và cả những ai khác ngoài họ và Ngài chắc chắn sẽ thưởng phạt công bằng tương thích với hành động của họ.
2:96Page 15
وَلَتَجِدَنَّهُمۡ أَحۡرَصَ ٱلنَّاسِ عَلَىٰ حَيَوٰةٖ وَمِنَ ٱلَّذِينَ أَشۡرَكُواْۚ يَوَدُّ أَحَدُهُمۡ لَوۡ يُعَمَّرُ أَلۡفَ سَنَةٖ وَمَا هُوَ بِمُزَحۡزِحِهِۦ مِنَ ٱلۡعَذَابِ أَن يُعَمَّرَۗ وَٱللَّهُ بَصِيرُۢ بِمَا يَعۡمَلُونَ ٩٦
And you will surely find them the most greedy of people for life - [even] more than those who associate others with Allāh. One of them wishes that he could be granted life a thousand years, but it would not remove him in the least from the [coming] punishment that he should be granted life. And Allāh is Seeing of what they do.
Này Nabi Muhammad, Người sẽ thấy những người Do Thái là những kẻ tham sống sợ chết hơn những ai khác trong nhân loại cho dù cuộc sống trần gian có rẻ mạt thế nào, không, họ còn tham sống hơn cả những người thờ đa thần, những kẻ mà chúng không tin nơi sự Phục sinh và Phán xét trong khi họ là dân Kinh Sách, họ tin nơi sự Phục sinh và Phán xét. Mỗi người của họ đều mong ước được sống thọ đến một ngàn năm tuổi nhưng cho dù họ có sống thọ lâu đến mấy thì họ cũng không thể thoát khỏi sự trừng phạt của Allah. Ngài am tường tất cả mọi hành động mà chúng đã làm bởi vì không có bất cứ điều gì có thể che giấu được Ngài và Ngài sẽ trừng phạt họ thích đáng.
2:97Page 15
قُلۡ مَن كَانَ عَدُوّٗا لِّـجِبۡرِيلَ فَإِنَّهُۥ نَزَّلَهُۥ عَلَىٰ قَلۡبِكَ بِإِذۡنِ ٱللَّهِ مُصَدِّقٗا لِّمَا بَيۡنَ يَدَيۡهِ وَهُدٗى وَبُشۡرَىٰ لِلۡمُؤۡمِنِينَ ٩٧
Say, "Whoever is an enemy to Gabriel - it is [none but] he who has brought it [i.e., the Qur’ān] down upon your heart, [O Muḥammad], by permission of Allāh, confirming that which was before it and as guidance and good tidings for the believers."
Này Nabi Muhammad, Ngươi hãy nói với những người Do Thái đã nói: "quả thật đại Thiên Thần Jibril là kẻ thù của chúng tôi": những ai là kẻ thù của Jibril - bởi vì Y mang Kinh Qur'an xuống đặt vào trái tim của Ngươi nhằm xác nhận những gì trong các Thiên Kinh trước như Tawrah và Injil và để hướng dẫn đến với điều tốt đẹp đồng thời làm một nguồn tin vui cho những người có đức tin về những gì mà Allah đã chuẩn bị cho họ nơi Thiên Đàng - thì họ là những kẻ lầm lạc.
2:98Page 15
مَن كَانَ عَدُوّٗا لِّلَّهِ وَمَلَٰٓئِكَتِهِۦ وَرُسُلِهِۦ وَجِبۡرِيلَ وَمِيكَىٰلَ فَإِنَّ ٱللَّهَ عَدُوّٞ لِّلۡكَٰفِرِينَ ٩٨
Whoever is an enemy to Allāh and His angels and His messengers and Gabriel and Michael - then indeed, Allāh is an enemy to the disbelievers.
Ai là kẻ thù của Allah, của các vị Thiên Thần, của các vị Thiên Sứ và của hai vị đại Thiên Thần Jibril và Mika-il thì Allah chính là kẻ thù của những kẻ vô đức tin đó, và những ai mà họ là kẻ thù của Allah thì họ là những kẻ thua thiệt và thất bại quá rõ ràng.
2:99Page 15
وَلَقَدۡ أَنزَلۡنَآ إِلَيۡكَ ءَايَٰتِۭ بَيِّنَٰتٖۖ وَمَا يَكۡفُرُ بِهَآ إِلَّا ٱلۡفَٰسِقُونَ ٩٩
And We have certainly revealed to you verses [which are] clear proofs, and no one would deny them except the defiantly disobedient.
Quả thật, TA đã ban xuống cho Ngươi - hỡi Nabi Muhammad - những dấu hiệu rõ ràng để chứng minh sự trung thực của Ngươi về những gì Ngươi mang đến từ sứ mạng Nabi và sự Mặc Khải, tuy nhiên, chỉ có những kẻ làm điều sai quấy và đại nghịch bất đạo mới chối bỏ tôn giáo của Allah.
2:100Page 15
أَوَكُلَّمَا عَٰهَدُواْ عَهۡدٗا نَّبَذَهُۥ فَرِيقٞ مِّنۡهُمۚ بَلۡ أَكۡثَرُهُمۡ لَا يُؤۡمِنُونَ ١٠٠
Is it not [true] that every time they took a covenant a party of them threw it away? But, [in fact], most of them do not believe.
Một trong những bản chất xấu của người Do Thái là mỗi khi họ nhận lấy Giao Ước thì họ vứt bỏ nó sang một bên. Và một điều thuộc Giao Ước đó chính là tin nơi những gì mà Kinh Tawrah đã báo trước về sứ mạng Nabi của Muhammad nhưng một thành phần trong bọn họ đã gạt bỏ sự việc đó, không phải một thành phần mà đích thực đa số bọn họ đều không tin nơi những gì được Allah ban xuống bởi lẽ đức tin phải được thể hiện qua việc thực hiện và chấp hành theo Giao Ước.
2:101Page 15
وَلَمَّا جَآءَهُمۡ رَسُولٞ مِّنۡ عِندِ ٱللَّهِ مُصَدِّقٞ لِّمَا مَعَهُمۡ نَبَذَ فَرِيقٞ مِّنَ ٱلَّذِينَ أُوتُواْ ٱلۡكِتَٰبَ كِتَٰبَ ٱللَّهِ وَرَآءَ ظُهُورِهِمۡ كَأَنَّهُمۡ لَا يَعۡلَمُونَ ١٠١
And when a messenger from Allāh came to them confirming that which was with them, a party of those who had been given the Scripture threw the Scripture of Allāh [i.e., the Torah] behind their backs as if they did not know [what it contained].
Khi Muhammad đến với họ trên cương vị là một vị Thiên Sứ của Allah ăn khớp với những gì được báo trước trong Kinh Tawrah thì một phần thành phần của họ phủ nhận, họ ném điều đó ra sau lưng họ giống như họ không biết không hay gì cả, họ hành động giống như những kẻ ngu dốt không hiểu gì từ sự chân lý và nguồn chỉ đạo cho nên họ không quan tâm và bất cần.
2:102Page 16
وَٱتَّبَعُواْ مَا تَتۡلُواْ ٱلشَّيَٰطِينُ عَلَىٰ مُلۡكِ سُلَيۡمَٰنَۖ وَمَا كَفَرَ سُلَيۡمَٰنُ وَلَٰكِنَّ ٱلشَّيَٰطِينَ كَفَرُواْ يُعَلِّمُونَ ٱلنَّاسَ ٱلسِّحۡرَ وَمَآ أُنزِلَ عَلَى ٱلۡمَلَكَيۡنِ بِبَابِلَ هَٰرُوتَ وَمَٰرُوتَۚ وَمَا يُعَلِّمَانِ مِنۡ أَحَدٍ حَتَّىٰ يَقُولَآ إِنَّمَا نَحۡنُ فِتۡنَةٞ فَلَا تَكۡفُرۡۖ فَيَتَعَلَّمُونَ مِنۡهُمَا مَا يُفَرِّقُونَ بِهِۦ بَيۡنَ ٱلۡمَرۡءِ وَزَوۡجِهِۦۚ وَمَا هُم بِضَآرِّينَ بِهِۦ مِنۡ أَحَدٍ إِلَّا بِإِذۡنِ ٱللَّهِۚ وَيَتَعَلَّمُونَ مَا يَضُرُّهُمۡ وَلَا يَنفَعُهُمۡۚ وَلَقَدۡ عَلِمُواْ لَمَنِ ٱشۡتَرَىٰهُ مَا لَهُۥ فِي ٱلۡأٓخِرَةِ مِنۡ خَلَٰقٖۚ وَلَبِئۡسَ مَا شَرَوۡاْ بِهِۦٓ أَنفُسَهُمۡۚ لَوۡ كَانُواْ يَعۡلَمُونَ ١٠٢
And they followed [instead] what the devils had recited during the reign of Solomon. It was not Solomon who disbelieved, but the devils disbelieved, teaching people magic and that which was revealed to the two angels at Babylon, Hārūt and Mārūt. But they [i.e., the two angels] do not teach anyone unless they say, "We are a trial, so do not disbelieve [by practicing magic]."1 And [yet] they learn from them that by which they cause separation between a man and his wife. But they do not harm anyone through it except by permission of Allāh. And they [i.e., people] learn what harms them and does not benefit them. But they [i.e., the Children of Israel] certainly knew that whoever purchased it [i.e., magic] would not have in the Hereafter any share. And wretched is that for which they sold themselves, if they only knew.
Và khi chúng bỏ tôn giáo của Allah, đi theo những thứ mà Shaytan đã dối gạt và bịa đặt rằng nó đến từ quyền lực của Sulayman và cho rằng quyền lực của Người có được là bùa chú (pháp thuật và bùa ngải) nhưng Sulayman không hề vô đức tin bởi việc cho đi bùa chú như người Do Thái đã khẳng định mà chính những tên Shaytan đã phủ nhận đức tin khi họ dạy nhân loại bùa chú. Những tên Shaytan đã dạy loài người bùa chú, thứ mà đã được ban xuống cho hai vị Thiên Thần Harut và Marut tại thành phố Babylon (I-rắc) để làm điều Fitnah (sự cám dỗ và thử thách) nhân loại. Và hai vị Thiên Thần này không dạy bùa chú cho bất cứ ai ngoại trừ đã cảnh báo và trình bày rõ với lời rằng chúng tôi chỉ là sự cám dỗ và thử thách cho nhân loại cho nên chớ đừng vô đức tin với việc học bùa chú. Tuy nhiên, những ai không chấp nhận lời khuyên răn của hai vị Thiên Thần đó thì đã học bùa chú từ họ và trong thuật bùa chú có loại chuyên làm chia cách hai vợ chồng và gieo sự thù ghét giữa đôi vợ chồng. Và những người dùng thuật bùa chú không thể gây hại được bất cứ ai trừ phi có phép của Allah. Những người học thuật bùa chú chỉ mang lại điều thiệt hại cho bản thân chứ không mang lại lợi ích gì cho họ; và những người Do Thai đó đã đối lấy bùa chú với Kinh Sách của Allah cho nên vào Đời Sau họ sẽ không có được bất cứ phần phước nào cả; thật xấu xa thay cho những kẻ đã đổi chác lời mặc khải và giáo lý của Allah với thuật bùa chú, nếu họ biết điều tệ hại và xấu xa đó.
2:103Page 16
وَلَوۡ أَنَّهُمۡ ءَامَنُواْ وَٱتَّقَوۡاْ لَمَثُوبَةٞ مِّنۡ عِندِ ٱللَّهِ خَيۡرٞۚ لَّوۡ كَانُواْ يَعۡلَمُونَ ١٠٣
And if they had believed and feared Allāh, then the reward from Allāh would have been [far] better, if they only knew.
Giá như những người Do Thái chịu tin và kính sợ Allah một cách chân thật, họ chấp hành các mệnh lệnh của Ngài và từ bỏ những điều trái lệnh Ngài thì chắc chắn Allah đã ban cho họ phần thưởng tốt đẹp hơn, nếu như họ biết điều đó.
2:104Page 16
يَٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ لَا تَقُولُواْ رَٰعِنَا وَقُولُواْ ٱنظُرۡنَا وَٱسۡمَعُواْۗ وَلِلۡكَٰفِرِينَ عَذَابٌ أَلِيمٞ ١٠٤
O you who have believed, say not [to Allāh's Messenger], "Rāʿinā" but say, "Unẓurnā"1 and listen. And for the disbelievers is a painful punishment.
Allah phán bảo những người có đức tin lựa chọn các ngôn từ khi nói chuyện với Thiên Sứ của Allah rằng họ chớ nói với Người bằng tiếng "Ra-'ina" có nghĩa là 'hãy lắng nghe chúng tôi" nhưng đồng thời cũng mang nghĩa khùng điên và ngu muội. Bởi vì người Do Thái thường bóp méo tiếng nói cũng như nội dung ý nghĩa nhằm để nhạo báng Thiên Sứ của Allah nên Allah cấm dùng tiếng nói mang những hàm ý xấu khi nói chuyện với Thiên Sứ của Allah để khỏi rơi vào hành vi xúc phạm Người, Ngài ra lệnh cho những người bề tôi có đức tin của Ngài hãy dùng tiếng Unzhurna (hãy đợi chúng tôi) để thay cho Ra-'ina bởi vì tiếng Unzhurna không mang hàm ý xấu nào khác ngoài nghĩa gốc của nó. Và những kẻ vô đức tin nơi Allah sẽ bị trừng phạt đau đớn.
2:105Page 16
مَّا يَوَدُّ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ مِنۡ أَهۡلِ ٱلۡكِتَٰبِ وَلَا ٱلۡمُشۡرِكِينَ أَن يُنَزَّلَ عَلَيۡكُم مِّنۡ خَيۡرٖ مِّن رَّبِّكُمۡۚ وَٱللَّهُ يَخۡتَصُّ بِرَحۡمَتِهِۦ مَن يَشَآءُۚ وَٱللَّهُ ذُو ٱلۡفَضۡلِ ٱلۡعَظِيمِ ١٠٥
Neither those who disbelieve from the People of the Scripture [i.e., the Jews and Christians] nor the polytheists wish that any good should be sent down to you from your Lord. But Allāh selects for His mercy whom He wills, and Allāh is the possessor of great bounty.
Những người vô đức tin dù là dân Kinh sách hay những người thờ đa thần đều không thích điều tốt đẹp nào từ nơi Thượng Đế của các ngươi được ban xuống cho các ngươi dù nhiều hay ít. Tuy nhiên, Allah quyết định ban sứ mạng Nabi và lời mặc khải cũng như đức tin Iman cho bất kỳ ai Ngài muốn trong đám bề tôi của Ngài. Và Allah là Đấng có vô tận hồng ân vĩ đại, và việc vị Thiên Sứ được dựng lên và việc Kinh Sách được ban xuống đều là từ hồng phúc của Ngài.
2:106Page 17
۞ مَا نَنسَخۡ مِنۡ ءَايَةٍ أَوۡ نُنسِهَا نَأۡتِ بِخَيۡرٖ مِّنۡهَآ أَوۡ مِثۡلِهَآۗ أَلَمۡ تَعۡلَمۡ أَنَّ ٱللَّهَ عَلَىٰ كُلِّ شَيۡءٖ قَدِيرٌ ١٠٦
We do not abrogate a verse or cause it to be forgotten except that We bring forth [one] better than it or similar to it. Do you not know that Allāh is over all things competent?
Allah cho biết rằng việc Ngài xóa bỏ một điều luật nào trong câu Kinh Qur'an hoặc xóa bỏ lời câu Kinh và làm cho con người quên đi câu Kinh đó thì chắc chắn Ngài sẽ mang đến một câu Kinh khác hoặc một giáo lý khác tốt đẹp hơn cho đời này và Đời Sau hoặc Ngài sẽ mang đến một câu Kinh có giá trị ngang bằng với câu Kinh cũ. Tất cả đều do kiến thức vô hạn và sự anh minh tuyệt đối của Allah, và Ngươi (Muhammad) chẳng lẽ không biết rằng Allah là Đấng Toàn Năng trên tất cả mọi sự việc, Ngài muốn làm gì tùy ý Ngài và Ngài quyết định điều gì tùy ý Ngài hay sao?.
Text: Quranic Universal Library (Tarteel), via spa5k/tafsir_api (MIT), at a fixed version. The ayahs: Quran Foundation. Sources and licences