Al-Mukhtasar · Tafsir · in Vietnamese
السجدة
As-Sajdah
The Prostration · Meccan · 30 ayahs
{Alif. Lam. Mim} là những chữ cái được dùng để khai đề cho chương Kinh. Ý nghĩa của nó đã được trình bày ở phần đầu của chương Al-Baqarah.
32:2Page 415
تَنزِيلُ ٱلۡكِتَٰبِ لَا رَيۡبَ فِيهِ مِن رَّبِّ ٱلۡعَٰلَمِينَ ٢
[This is] the revelation of the Book about which there is no doubt from the Lord of the worlds.
Kinh Qur'an mà Muhammad mang đến này đây đích thực được mặc khải từ Thượng Đế của toàn vũ trụ và muôn loài, không có gì phải ngờ vực về điều đó.
32:3Page 415
أَمۡ يَقُولُونَ ٱفۡتَرَىٰهُۚ بَلۡ هُوَ ٱلۡحَقُّ مِن رَّبِّكَ لِتُنذِرَ قَوۡمٗا مَّآ أَتَىٰهُم مِّن نَّذِيرٖ مِّن قَبۡلِكَ لَعَلَّهُمۡ يَهۡتَدُونَ ٣
Or do they say, "He invented it"? Rather, it is the truth from your Lord, [O Muḥammad], that you may warn a people to whom no warner has come before you [so] perhaps they will be guided.
Đám người vô đức tin này nói "Chắc chắn Muhammad đã tự bịa chuyện rồi nhân danh Thượng Đế của Y." Sự việc không như chúng nói đâu, mà đó là sự thật không có gì phải nghi ngờ cả, No đích thực được Thượng Đế thiên khải xuống cho Ngươi - hỡi Thiên Sứ -, để Ngươi cảnh báo đám người mà trước Ngươi chúng chưa từng được ai đến cảnh báo về hình phạt của Allah, hi vọng chúng sẽ được hướng dẫn đến với Chân Lý để chúng biết tuân thủ mà làm theo.
32:4Page 415
ٱللَّهُ ٱلَّذِي خَلَقَ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضَ وَمَا بَيۡنَهُمَا فِي سِتَّةِ أَيَّامٖ ثُمَّ ٱسۡتَوَىٰ عَلَى ٱلۡعَرۡشِۖ مَا لَكُم مِّن دُونِهِۦ مِن وَلِيّٖ وَلَا شَفِيعٍۚ أَفَلَا تَتَذَكَّرُونَ ٤
It is Allāh who created the heavens and the earth and whatever is between them in six days; then He established Himself above the Throne.1 You have not besides Him any protector or any intercessor; so will you not be reminded?
Allah là Đấng đã tạo các tầng trời, trái đất và tất cả vạn vật giữa trời đất trong vòng sáu ngày, và dĩ nhiên Allah thừa khả năng tạo hóa tất cả trong thời gian ngắn hơn một cái nháy mắt. Sau đó Ngài an vị bên trên chiếc 'Arsh (Ngai Vương) của Ngài bằng thuộc tính tối cao của riêng Ngài. Các ngươi - hỡi con người - sẽ không tìm thấy đâu ngoài Ngài ai dám đứng ra bảo hộ công việc của các ngươi hoặc dám đứng ra biện hộ cho các ngươi trước Thượng Đế của các ngươi cả. Thế các ngươi không suy nghĩ rằng các ngươi nên thờ phượng Allah, Đấng đã tạo hóa các ngươi chứ không nên thờ phượng các thần linh khác cùng với Ngài?
32:5Page 415
يُدَبِّرُ ٱلۡأَمۡرَ مِنَ ٱلسَّمَآءِ إِلَى ٱلۡأَرۡضِ ثُمَّ يَعۡرُجُ إِلَيۡهِ فِي يَوۡمٖ كَانَ مِقۡدَارُهُۥٓ أَلۡفَ سَنَةٖ مِّمَّا تَعُدُّونَ ٥
He arranges [each] matter from the heaven to the earth; then it will ascend to Him in a Day, the extent of which is a thousand years of those which you count.
Allah Toàn Năng, Tối Cao định sẵn sự việc cho tất cả vạn vật trong các tầng trời và trái đất, rồi sự việc đó được mang lên trình tấu Ngài trong một ngày mà thời gian của nó tương đương một ngàn năm theo cách tính của các ngươi ở trần gian - hỡi con người.
32:6Page 415
ذَٰلِكَ عَٰلِمُ ٱلۡغَيۡبِ وَٱلشَّهَٰدَةِ ٱلۡعَزِيزُ ٱلرَّحِيمُ ٦
That is the Knower of the unseen and the witnessed, the Exalted in Might, the Merciful,
Như thế đó, Ngài là Đấng am tường mọi thứ có thể nhìn thấy và mọi thứ không thể nhìn thấy, không thứ gì giấu được Ngài, Ngài là Đấng quyền năng, không ai trong kẻ thù của Ngài có thể chiến thắng được Ngài, nhưng Ngài nhân từ với đám nô lệ có đức tin của Ngài.
32:7Page 415
ٱلَّذِيٓ أَحۡسَنَ كُلَّ شَيۡءٍ خَلَقَهُۥۖ وَبَدَأَ خَلۡقَ ٱلۡإِنسَٰنِ مِن طِينٖ ٧
Who perfected everything which He created and began the creation of man from clay.
Ngài điều chỉnh tất cả vạn vật mà Ngài đã tạo đến mức hoàn mỹ và Ngài đã tạo ông tổ của loài ngươi - Adam - từ đất sét với hình dạng chưa từng có trước đó.
32:8Page 415
ثُمَّ جَعَلَ نَسۡلَهُۥ مِن سُلَٰلَةٖ مِّن مَّآءٖ مَّهِينٖ ٨
Then He made his posterity out of the extract of a liquid disdained.
Sau đó, Ngài tạo ra con cháu của Y - Adam - bằng loại dịch xuất ra từ cơ thể của y được gọi là tinh dịch.
32:9Page 415
ثُمَّ سَوَّىٰهُ وَنَفَخَ فِيهِ مِن رُّوحِهِۦۖ وَجَعَلَ لَكُمُ ٱلسَّمۡعَ وَٱلۡأَبۡصَٰرَ وَٱلۡأَفۡـِٔدَةَۚ قَلِيلٗا مَّا تَشۡكُرُونَ ٩
Then He proportioned him and breathed into him from His [created] soul1 and made for you hearing and vision and hearts [i.e., intellect]; little are you grateful.
Sau đó, Ngài hoàn chỉnh hình dáng của con người, Ngài thổi linh hồn của Ngài vào y bằng cách hạ lệnh cho Thiên Thần thực hiện, và Ngài đã tạo cho các ngươi - hỡi con người - đôi tai để các ngươi nghe, cặp mắt để các ngươi nhìn và con tim để các ngươi suy nghĩ, thế mà các ngươi gần như không biết ơn về những hồng ân mà Ngài đã ban cho các ngươi.
32:10Page 415
وَقَالُوٓاْ أَءِذَا ضَلَلۡنَا فِي ٱلۡأَرۡضِ أَءِنَّا لَفِي خَلۡقٖ جَدِيدِۭۚ بَلۡ هُم بِلِقَآءِ رَبِّهِمۡ كَٰفِرُونَ ١٠
And they say, "When we are lost [i.e., disintegrated] within the earth, will we indeed be [recreated] in a new creation?" Rather, they are, in the meeting with their Lord, disbelievers.
Và những kẻ đa thần phủ nhận sự Phục Sinh nói: Sau khi chúng tôi chết và trở thành cát bụi trong lòng đất thì chúng tôi được dựng sống lại lần nữa ư?! Không phải là chúng không hiểu được mà đúng hơn là chúng muốn bác bỏ việc phục sinh vì chúng không hề tin điều đó.
32:11Page 415
۞ قُلۡ يَتَوَفَّىٰكُم مَّلَكُ ٱلۡمَوۡتِ ٱلَّذِي وُكِّلَ بِكُمۡ ثُمَّ إِلَىٰ رَبِّكُمۡ تُرۡجَعُونَ ١١
Say, "The angel of death who has been entrusted with you will take you. Then to your Lord you will be returned."
Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy nói với đám người đa thần phủ nhận sự phục sinh: Allah đã giao nhiệm vụ cho Thần Chết đảm trách nhiệm vụ rút hồn các ngươi, sau đó các ngươi được đưa trở về trình diện một mình TA vaof Ngày Tận Thế để chịu sự thanh toán và thưởng phạt.
32:12Page 416
وَلَوۡ تَرَىٰٓ إِذِ ٱلۡمُجۡرِمُونَ نَاكِسُواْ رُءُوسِهِمۡ عِندَ رَبِّهِمۡ رَبَّنَآ أَبۡصَرۡنَا وَسَمِعۡنَا فَٱرۡجِعۡنَا نَعۡمَلۡ صَٰلِحًا إِنَّا مُوقِنُونَ ١٢
If you could but see when the criminals are hanging their heads before their Lord, [saying], "Our Lord, we have seen and heard, so return us [to the world]; we will work righteousness. Indeed, we are [now] certain."
Rồi sẽ sớm cho đám người tội lỗi thấy được trong Ngày Tận Thế hoàn cảnh chính họ phải cúi đầu nhục nhã vì lý do phủ nhận sự phục sinh, khi họ nhận thức được sự nhục nhã, họ khấn vái: Lạy Thượng Đế của bầy tôi! Bầy tôi đã thấy được sai trái việc bầy tôi từng phủ nhận về sự phục sinh, bầy tôi đã nghe được sự thật mà các vị Thiên Sứ mang đến từ Ngài, xin Ngài cho bầy tôi trở lại cuộc sống trần gian lần nữa, bầy tôi quyết sẽ hành đạo làm Ngài hài lòng, quả thật bây giờ bầy tôi đã tin một cách kiên định rằng việc phục sinh là thật như các vị Thiên Sứ đã nói. Nếu như Ngươi - Muhammad - thấy được cảnh tượng của đám người tội lỗi lúc đó thì Ngươi đã thấy một cảnh tượng khủng khiếp.
32:13Page 416
وَلَوۡ شِئۡنَا لَأٓتَيۡنَا كُلَّ نَفۡسٍ هُدَىٰهَا وَلَٰكِنۡ حَقَّ ٱلۡقَوۡلُ مِنِّي لَأَمۡلَأَنَّ جَهَنَّمَ مِنَ ٱلۡجِنَّةِ وَٱلنَّاسِ أَجۡمَعِينَ ١٣
And if We had willed, We could have given every soul its guidance, but the word1 from Me will come into effect [that] "I will surely fill Hell with jinn and people all together.
Và nếu muốn, TA đã ban cho mỗi người một chỉ đạo riêng, nhưng lời phán của TA phải được thực thị vị sự công bằng và anh minh của TA: TA sẽ nhét đầy Hỏa Ngục trong Ngày Tận Thế đám người vô đức tin thuộc hai loài Jinn (ma quỷ) và loài người; bởi vì chúng đã chọn con đường vô đức tin và lầm lạc khỏi con đường của đức tin và ngay chính.
32:14Page 416
فَذُوقُواْ بِمَا نَسِيتُمۡ لِقَآءَ يَوۡمِكُمۡ هَٰذَآ إِنَّا نَسِينَٰكُمۡۖ وَذُوقُواْ عَذَابَ ٱلۡخُلۡدِ بِمَا كُنتُمۡ تَعۡمَلُونَ ١٤
So taste [punishment] because you forgot the meeting of this, your Day; indeed, We have [accordingly] forgotten you. And taste the punishment of eternity for what you used to do."
Trong Ngày Tận Thế có lời nói nhục mạ chúng: Đó, các ngươi hãy nếm đi hình phạt do sự lơ là của các ngươi trên trần gian về cuộc gặp gỡ Allah vào Ngày Tận Thế cho việc thanh toán các ngươi. TA (Allah) bỏ mặc cho các ngươi phải gánh chịu hình phạt như thế, cho nên các ngươi hãy mãi mãi nếm sự trừng phạt vì những tội lỗi mà các ngươi đã gây ra ở trên trần gian.
32:15Page 416
إِنَّمَا يُؤۡمِنُ بِـَٔايَٰتِنَا ٱلَّذِينَ إِذَا ذُكِّرُواْ بِهَا خَرُّواْۤ سُجَّدٗاۤ وَسَبَّحُواْ بِحَمۡدِ رَبِّهِمۡ وَهُمۡ لَا يَسۡتَكۡبِرُونَ۩ ١٥
Only those believe in Our verses who, when they are reminded by them, fall down in prostration and exalt [Allāh] with praise of their Lord, and they are not arrogant.
Quả thật, người tin tưởng vào các Lời Phán mà TA đã thiên khải cho Thiên Sứ của TA là những người mà khi họ được người khác dùng các Lời Phán đó khuyên bảo thì họ liền quỳ lạy mà tụng niệm, tạ ơn Allah và họ không hề có bản tính tự cao trong bổn phận thờ phượng Allah, và họ không e ngại phải quỳ lạy dù trong hoàn cảnh nào.
32:16Page 416
تَتَجَافَىٰ جُنُوبُهُمۡ عَنِ ٱلۡمَضَاجِعِ يَدۡعُونَ رَبَّهُمۡ خَوۡفٗا وَطَمَعٗا وَمِمَّا رَزَقۡنَٰهُمۡ يُنفِقُونَ ١٦
Their sides part [i.e., they arise] from [their] beds; they supplicate their Lord in fear and aspiration, and from what We have provided them, they spend.1
Họ thức dậy rời khỏi nệm êm chăn ấm để hướng về Allah, họ khẩn cầu Ngài trong lễ nguyện Salah của mình bằng tấm lòng sợ hãi trước hình phạt của Allah đồng thời hi vọng nơi lòng khoan dung của Ngài, và họ dùng tài sản được Allah ban cấp cho con đường chính nghĩa của Ngài.
32:17Page 416
فَلَا تَعۡلَمُ نَفۡسٞ مَّآ أُخۡفِيَ لَهُم مِّن قُرَّةِ أَعۡيُنٖ جَزَآءَۢ بِمَا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ ١٧
And no soul knows what has been hidden for them of comfort for eyes [i.e., satisfaction] as reward for what they used to do.
Bởi thế, không một ai biết được những thứ mà Allah đã chuẩn bị cho họ, những thứ sẽ làm họ thỏa mãn và hài lòng, một phần thưởng bù đắp cho những việc làm ngoan đạo mà họ đã từng làm trên thế gian, đó là phần thưởng chỉ riêng Allah mới tận tường sự vĩ đại của nó.
32:18Page 416
أَفَمَن كَانَ مُؤۡمِنٗا كَمَن كَانَ فَاسِقٗاۚ لَّا يَسۡتَوُۥنَ ١٨
Then is one who was a believer like one who was defiantly disobedient? They are not equal.
Người tin tưởng vào Allah, biết tuân thủ theo mệnh lệnh của Ngài không hề ngang bằng với kẻ rời khỏi sự phục tùng Allah, hai nhóm người này không hề ngang nhau trước Allah về phần đến đáp công lao.
32:19Page 416
أَمَّا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَعَمِلُواْ ٱلصَّٰلِحَٰتِ فَلَهُمۡ جَنَّٰتُ ٱلۡمَأۡوَىٰ نُزُلَۢا بِمَا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ ١٩
As for those who believed and did righteous deeds, for them will be the Gardens of Refuge as accommodation for what they used to do.
Đối với những ai đã tin tưởng Allah và hành đạo tốt, họ được Allah dành cho họ phần thưởng là những ngôi vườn của Thiên Đàng, một phần tưởng thưởng cho những việc làm ngoan đạo mà họ đã từng làm trên thế gian.
32:20Page 416
وَأَمَّا ٱلَّذِينَ فَسَقُواْ فَمَأۡوَىٰهُمُ ٱلنَّارُۖ كُلَّمَآ أَرَادُوٓاْ أَن يَخۡرُجُواْ مِنۡهَآ أُعِيدُواْ فِيهَا وَقِيلَ لَهُمۡ ذُوقُواْ عَذَابَ ٱلنَّارِ ٱلَّذِي كُنتُم بِهِۦ تُكَذِّبُونَ ٢٠
But as for those who defiantly disobeyed, their refuge is the Fire. Every time they wish to emerge from it, they will be returned to it while it is said to them, "Taste the punishment of the Fire which you used to deny."
Và đối với những ai không phục tùng Allah bằng sự vô đức tin và vi phạm nhiều tội lỗi, chúng đã được chuẩn bị cho một chốn cư ngụ trong Ngày Tận Thế là Hỏa Ngục, chúng sẽ ở trong đó mãi mãi. Cứ mỗi lần chúng muốn rời khỏi nơi đó thì liền bị lôi trở lại vào trong đó kèm theo lời nhục mạ: Các ngươi hãy nếm hình phạt của Hỏa Ngục mà các ngươi đã từng phủ nhận ở trần gian, khi mà các Thiên Sứ đến cảnh báo các ngươi về nỗi kinh hoàng của Nó.
32:21Page 417
وَلَنُذِيقَنَّهُم مِّنَ ٱلۡعَذَابِ ٱلۡأَدۡنَىٰ دُونَ ٱلۡعَذَابِ ٱلۡأَكۡبَرِ لَعَلَّهُمۡ يَرۡجِعُونَ ٢١
And We will surely let them taste the nearer punishment1 short of the greater punishment that perhaps they will return [i.e., repent].
Và chắc rằng TA sẽ cho những kẻ phủ nhận đã rời khỏi sự phụ tùng Thượng Đế của chúng gặp phải tai ách, khổ ải ở ngay trong cuộc sống trần gian trước khi cho chúng đối diện với sự trừng phạt khủng khiếp ở Đời Sau nếu như chúng vẫn không biết hối cải, hi vọng rằng chúng biết sợ mà quay đầu phục tùng Thượng Đế của chúng.
32:22Page 417
وَمَنۡ أَظۡلَمُ مِمَّن ذُكِّرَ بِـَٔايَٰتِ رَبِّهِۦ ثُمَّ أَعۡرَضَ عَنۡهَآۚ إِنَّا مِنَ ٱلۡمُجۡرِمِينَ مُنتَقِمُونَ ٢٢
And who is more unjust than one who is reminded of the verses of his Lord; then he turns away from them? Indeed We, from the criminals, will take retribution.
Và không còn ai bất công hơn kẻ đã được nhắc cho nghe về các lời mặc khải của Allah nhưng y vẫn thờ ơ quay lưng bỏ đi. Rồi đám người tội lỗi đó sẽ bị TA trừng phạt thích đáng, không thể nào tránh khỏi.
32:23Page 417
وَلَقَدۡ ءَاتَيۡنَا مُوسَى ٱلۡكِتَٰبَ فَلَا تَكُن فِي مِرۡيَةٖ مِّن لِّقَآئِهِۦۖ وَجَعَلۡنَٰهُ هُدٗى لِّبَنِيٓ إِسۡرَٰٓءِيلَ ٢٣
And We certainly gave Moses the Scripture, so do not be in doubt over his meeting.1 And We made it [i.e., the Torah] guidance for the Children of Israel.
Và TA (Allah) đã thiên khải cho Musa Kinh Tawrah (Cựu Ước), thế nên, Ngươi - hỡi Thiên Sứ - đừng nảy sinh sự nghi ngờ khi Ngươi gặp gỡ Musa trong lần Isra' và Mi'araj (dạ hành trong đêm và thăng thiên) và TA còn lấy quyển Kinh đã thiên khải cho Musa làm chỉ đạo cho đám con cháu lầm lạc của Israel.
32:24Page 417
وَجَعَلۡنَا مِنۡهُمۡ أَئِمَّةٗ يَهۡدُونَ بِأَمۡرِنَا لَمَّا صَبَرُواْۖ وَكَانُواْ بِـَٔايَٰتِنَا يُوقِنُونَ ٢٤
And We made from among them leaders guiding by Our command when they were patient and [when] they were certain of Our signs.
TA đã thiết lập một nhóm lãnh đạo trong số dân Israel để hướng dẫn thiên hạ đi theo chân lý bằng sự cho phép của TA, TA củng cố họ làm họ thêm kiên nhẫn trong việc tuân thủ theo mệnh lệnh của Allah, tránh xa những điều cấm của Ngài, vượt qua khó khăn cản trở trong con đường truyền bá. Và họ đã một lòng kiên định tin vào các Lời Mặc Khải của TA được ban xuống cho vị Thiên Sứ của họ.
32:25Page 417
إِنَّ رَبَّكَ هُوَ يَفۡصِلُ بَيۡنَهُمۡ يَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِ فِيمَا كَانُواْ فِيهِ يَخۡتَلِفُونَ ٢٥
Indeed, your Lord will judge between them on the Day of Resurrection concerning that over which they used to differ.
Chắc chắn Thượng Đế của Ngươi - hỡi Thiên Sứ - là Đấng xét xử giữa bọn chúng trong Ngày Tận Thế về những điều mà chúng đã thường tranh cãi nhau trên trần gian, Ngài sẽ phân định rõ Chân Lý và ngụy tạo và thưởng phạt thích đáng cho mỗi người.
32:26Page 417
أَوَلَمۡ يَهۡدِ لَهُمۡ كَمۡ أَهۡلَكۡنَا مِن قَبۡلِهِم مِّنَ ٱلۡقُرُونِ يَمۡشُونَ فِي مَسَٰكِنِهِمۡۚ إِنَّ فِي ذَٰلِكَ لَأٓيَٰتٍۚ أَفَلَا يَسۡمَعُونَ ٢٦
Has it not become clear to them how many generations We destroyed before them, [as] they walk among their dwellings? Indeed in that are signs; then do they not hear?
Phải chăng đám người này đã không được trình bày cho thấy việc TA đã tiêu diệt biết bao cộng đồng ở thời trước chúng hay sao?! Chính nơi mà chúng đang bước đi là chốn cư ngụ của các cộng đồng đó từng sinh sống trước đây, chúng đã không biết lấy đó làm bài học rằng chỉ vì vô đức tin và tội lỗi mà các cộng đồng đó bị hủy diệt, và sự kiện đó cũng là bằng chứng xác minh sứ mạng của các Thiên Sứ thật sự đến từ Allah. Lẽ nào chúng không từng nghe thông tin về đám người phủ nhận các lời mặc khải của TA để lấy đó mà làm bài học hay sao?!
32:27Page 417
أَوَلَمۡ يَرَوۡاْ أَنَّا نَسُوقُ ٱلۡمَآءَ إِلَى ٱلۡأَرۡضِ ٱلۡجُرُزِ فَنُخۡرِجُ بِهِۦ زَرۡعٗا تَأۡكُلُ مِنۡهُ أَنۡعَٰمُهُمۡ وَأَنفُسُهُمۡۚ أَفَلَا يُبۡصِرُونَ ٢٧
Have they not seen that We drive water [in clouds] to barren land and bring forth thereby crops from which their livestock eat and [they] themselves? Then do they not see?
Phải chăng đám người phủ nhận sự phục sinh không nhìn thấy việc TA đã trút mưa xuống vùng đất khô hạn không một cây cỏ, sau cơn mưa thì vùng đất đó lại mọc lên thảo mộc và cây cối dùng làm lương thực cho lạc đà, bò, dê của chúng ăn và cho cả bản thân chúng ăn đó hay sao? Chúng không nhìn thấy và cảm nhận rằng chính Đấng làm sống lại vùng đất đã chết khô thừa khả năng phục sinh con người đã chết hay sao?
32:28Page 417
وَيَقُولُونَ مَتَىٰ هَٰذَا ٱلۡفَتۡحُ إِن كُنتُمۡ صَٰدِقِينَ ٢٨
And they say, "When will be this conquest,1 if you should be truthful?"
Và đám người phủ nhận sự phục sinh đang hối thúc hình phạt mau đến, nói: Bao giờ lệnh trừng phạt mà các ngươi đã khẳng định, nó sẽ phân định ranh giới rõ ràng giữa bọn ta và các ngươi trong Ngày Tận Thế, rồi bọn ta sẽ vào Hỏa Ngục còn các ngươi sẽ được vào Thiên Đàng vậy?!
32:29Page 417
قُلۡ يَوۡمَ ٱلۡفَتۡحِ لَا يَنفَعُ ٱلَّذِينَ كَفَرُوٓاْ إِيمَٰنُهُمۡ وَلَا هُمۡ يُنظَرُونَ ٢٩
Say, [O Muḥammad], "On the Day of Conquest the belief of those who had disbelieved will not benefit them, nor will they be reprieved."
Người hãy nói với chúng - hỡi Thiên Sứ -: Cuộc hẹn trong Ngày Tận Thế sẽ là cuộc phân loại con người, lúc đó việc đám người đã phủ nhận Allah ở trần gian tin sau khi nhìn thấy Ngày Phán Xét sẽ không có lợi ích đối với chúng, một sự chứng thực trong Ngày Tận Thế sau khi đã phân loại và chúng cũng mất cơ hội trì hoãn để ăn năn sám hối với Thượng Đế.
32:30Page 417
فَأَعۡرِضۡ عَنۡهُمۡ وَٱنتَظِرۡ إِنَّهُم مُّنتَظِرُونَ ٣٠
So turn away from them and wait. Indeed, they are waiting.
Vì vậy, Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy tránh xa đám người lầm lạc đó và hãy chờ đợi chuyện gì sẽ xảy đến với chúng và chúng cũng phải chờ đợi hình phạt đang đón chào chúng.
Text: Quranic Universal Library (Tarteel), via spa5k/tafsir_api (MIT), at a fixed version. The ayahs: Quran Foundation. Sources and licences