Al-Mukhtasar · Tafsir · in Vietnamese
An-Nisa 4:147–176
4:147Page 101
مَّا يَفۡعَلُ ٱللَّهُ بِعَذَابِكُمۡ إِن شَكَرۡتُمۡ وَءَامَنتُمۡۚ وَكَانَ ٱللَّهُ شَاكِرًا عَلِيمٗا ١٤٧
What would Allāh do with [i.e., gain from] your punishment if you are grateful and believe? And ever is Allāh Appreciative1 and Knowing.
Nếu các ngươi biết ơn Allah và tin nơi Ngài thì Ngài sẽ không trừng phạt các ngươi bởi Ngài là Đấng Nhân Từ và Khoan Dung. Ngài chỉ trừng phạt các ngươi bởi những tội lỗi của các ngươi mà thôi, nếu các ngươi sửa đổi hành vi của mình và biết tạ ơn ân huệ của Ngài và tin nơi Ngài từ ngoài vào trọng thì Ngài sẽ không bao giờ trừng phạt các ngươi. Quả thật Allah là Đấng Tri Ân đối với ai thừa nhận ân huệ của Ngài, Ngài sẽ ban thưởng cho họ thích đáng.
4:148Page 102
۞ لَّا يُحِبُّ ٱللَّهُ ٱلۡجَهۡرَ بِٱلسُّوٓءِ مِنَ ٱلۡقَوۡلِ إِلَّا مَن ظُلِمَۚ وَكَانَ ٱللَّهُ سَمِيعًا عَلِيمًا ١٤٨
Allāh does not like the public mention of evil except by one who has been wronged. And ever is Allāh Hearing and Knowing.
Allah không thích việc mang những tội lỗi ra la lối trước công chúng, Ngài ghét và cảnh báo về sự trừng phạt cho hành vi đó. Ngoại trừ ai bị đối xử bất công thì y được phép mang điều xấu đó ra trước công chúng nhằm vạch trần kẻ làm điều bất công và đòi sự công bằng cho bản thân mình. Tuy nhiên, người bị đối xử bất công chịu đựng và kiên nhẫn thì điều đó tốt hơn việc mang ra công khai trước công chúng. Quả thật, Allah là Đấng Hằng Nghe tất cả lời lẽ của các ngươi và Ngài Hằng Biết tâm niệm và lòng dạ của các ngươi; bởi thế, các ngươi hãy cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói của mình.
4:149Page 102
إِن تُبۡدُواْ خَيۡرًا أَوۡ تُخۡفُوهُ أَوۡ تَعۡفُواْ عَن سُوٓءٖ فَإِنَّ ٱللَّهَ كَانَ عَفُوّٗا قَدِيرًا ١٤٩
If [instead] you show [some] good or conceal it or pardon an offense - indeed, Allāh is ever Pardoning and Competent.1
Nếu các ngươi công khai lời lẽ hoặc hành động tốt đẹp hay các ngươi che giấu nó hoặc các ngươi bỏ qua và xí xóa cho những ai có hành vi xấu với các ngươi thì các ngươi hãy biết rằng Allah là Đấng Hằng Xí Xóa và Bao Dung, Đấng Toàn Năng trên mọi thứ, Ngài sẽ xí xóa và bao dung cho các ngươi qua những phẩm chất đạo đức của các ngươi.
4:150Page 102
إِنَّ ٱلَّذِينَ يَكۡفُرُونَ بِٱللَّهِ وَرُسُلِهِۦ وَيُرِيدُونَ أَن يُفَرِّقُواْ بَيۡنَ ٱللَّهِ وَرُسُلِهِۦ وَيَقُولُونَ نُؤۡمِنُ بِبَعۡضٖ وَنَكۡفُرُ بِبَعۡضٖ وَيُرِيدُونَ أَن يَتَّخِذُواْ بَيۡنَ ذَٰلِكَ سَبِيلًا ١٥٠
Indeed, those who disbelieve in Allāh and His messengers and wish to discriminate between Allāh and His messengers and say, "We believe in some and disbelieve in others," and wish to adopt a way in between -
Quả thật, những kẻ phủ nhận Allah và các vị Thiên Sứ của Ngài, chúng muốn phân biệt giữa Allah và các vị Thiên Sứ của Ngài, chúng tin tưởng nơi Ngài nhưng lại phủ nhận các vị Thiên Sứ của Ngài, chúng nói: "Chúng tôi tin chỉ một số vị Thiên Sứ này và phủ nhận một số vị Thiên Sứ khác", chúng muốn đi trên con đường giữa sự vô đức tin và có đức tin và tưởng rằng nó sẽ cứu rỗi chúng.
4:151Page 102
أُوْلَٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡكَٰفِرُونَ حَقّٗاۚ وَأَعۡتَدۡنَا لِلۡكَٰفِرِينَ عَذَابٗا مُّهِينٗا ١٥١
Those are the disbelievers, truly. And We have prepared for the disbelievers a humiliating punishment.
Chúng là những kẻ tin một số vị Thiên Sứ và phủ nhận một số vị khác là những kẻ vô đức tin đích thực bởi lẽ ai phủ nhận toàn bộ các vị Thiên Sứ hoặc một số vị thì y đã phủ nhận Allah và các Thiên Sứ của Ngài. TA đã chuẩn bị cho những kẻ vô đức tin một sự trừng phạt đầy nhục nhã và đau đớn vào Ngày Phục Sinh, một hình phạt dành cho chúng bởi tội ngạo mạn không chịu tin nơi Allah và các Thiên Sứ của Ngài.
4:152Page 102
وَٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ بِٱللَّهِ وَرُسُلِهِۦ وَلَمۡ يُفَرِّقُواْ بَيۡنَ أَحَدٖ مِّنۡهُمۡ أُوْلَٰٓئِكَ سَوۡفَ يُؤۡتِيهِمۡ أُجُورَهُمۡۚ وَكَانَ ٱللَّهُ غَفُورٗا رَّحِيمٗا ١٥٢
But they who believe in Allāh and His messengers and do not discriminate between any of them - to those He is going to give their rewards. And ever is Allāh Forgiving and Merciful.
Những ai có đức tin nơi một mình Allah, không tổ hợp bất kỳ ai (vật gì) với Ngài, tin nơi toàn bộ các vị Thiên Sứ của Ngài, không phân biệt giữa các vị Thiên Sứ giống như những kẻ vô đức tin thì họ sẽ được Allah ban trả cho công lao của họ với phần thưởng vĩ đại, một sự ân thưởng cho đức tin Iman và việc làm ngoan đạo và thiện tốt của họ. Quả thật, Allah là Đấng hằng tha thứ và khoan dung với những bề tôi quay đầu sám hối với Ngài.
4:153Page 102
يَسۡـَٔلُكَ أَهۡلُ ٱلۡكِتَٰبِ أَن تُنَزِّلَ عَلَيۡهِمۡ كِتَٰبٗا مِّنَ ٱلسَّمَآءِۚ فَقَدۡ سَأَلُواْ مُوسَىٰٓ أَكۡبَرَ مِن ذَٰلِكَ فَقَالُوٓاْ أَرِنَا ٱللَّهَ جَهۡرَةٗ فَأَخَذَتۡهُمُ ٱلصَّٰعِقَةُ بِظُلۡمِهِمۡۚ ثُمَّ ٱتَّخَذُواْ ٱلۡعِجۡلَ مِنۢ بَعۡدِ مَا جَآءَتۡهُمُ ٱلۡبَيِّنَٰتُ فَعَفَوۡنَا عَن ذَٰلِكَۚ وَءَاتَيۡنَا مُوسَىٰ سُلۡطَٰنٗا مُّبِينٗا ١٥٣
The People of the Scripture ask you to bring down to them a book from the heaven. But they had asked of Moses [even] greater than that and said, "Show us Allāh outright," so the thunderbolt struck them for their wrongdoing. Then they took the calf [for worship] after clear evidences had come to them, and We pardoned that. And We gave Moses a clear authority.
Những người Do Thái đòi Ngươi - hỡi vị Thiên Sứ Muhammad - mang xuống cho chúng một Kinh Sách trọn vẹn từ trên trời xuống. Điều này cũng đã xảy ra với Nabi Musa, chúng cũng đã đòi Musa giống như thế, chúng đòi Musa một điều lớn lao cái mà chúng đòi Ngươi, đó là chúng đòi Musa cho chúng nhìn thấy Allah tận mắt. Nhưng ngay sau khi chúng đòi thì một sự trừng phạt đã giáng xuống bọn chúng, Allah đã cho lưỡi tầm sét đánh chúng bất tỉnh. Nhưng sau khi Allah làm cho chúng sống trở lại và cho chúng chứng kiến nhiều bằng chứng rõ rệt chứng minh sự hiện hữu của Ngài thì chúng lại thờ phượng ngoài Allah một thần linh khác, đó là một con bò con được đúc do chính bàn tay của chúng. Nhưng TA vẫn lượng thứ cho chúng và TA đã ban cho Musa một thẩm quyền rõ ràng trên đám dân của y.
4:154Page 102
وَرَفَعۡنَا فَوۡقَهُمُ ٱلطُّورَ بِمِيثَٰقِهِمۡ وَقُلۡنَا لَهُمُ ٱدۡخُلُواْ ٱلۡبَابَ سُجَّدٗا وَقُلۡنَا لَهُمۡ لَا تَعۡدُواْ فِي ٱلسَّبۡتِ وَأَخَذۡنَا مِنۡهُم مِّيثَٰقًا غَلِيظٗا ١٥٤
And We raised over them the mount for [refusal of] their covenant; and We said to them, "Enter the gate bowing humbly"; and We said to them, "Do not transgress on the sabbath"; and We took from them a solemn covenant.
Và TA đã dựng lên một ngọn núi cao khỏi đầu của chúng dọa chúng sợ để bắt chúng cam kết lời giao ước mà thực hành và chấp hành theo. Và TA đã phán bảo chúng rằng hãy đi vào cánh cửa của ngôi đến Al-Maqdis (Jerusalem - Palestine) quỳ mọp đầu xuống phủ phục TA nhưng chúng lại quay lưng bước lui vào; và khi TA phán bảo chúng chớ đi đánh bắt cá vào ngày thứ bảy thì chúng lại gian lận ngoan cố đánh bắt cá cho bằng được. Và TA đã giao ước với chúng bằng một sự giáo ước long trọng và mạnh bạo tức nếu chúng vị phạm giáo ước thì chúng sẽ bị trừng phạt nặng nề.
4:155Page 103
فَبِمَا نَقۡضِهِم مِّيثَٰقَهُمۡ وَكُفۡرِهِم بِـَٔايَٰتِ ٱللَّهِ وَقَتۡلِهِمُ ٱلۡأَنۢبِيَآءَ بِغَيۡرِ حَقّٖ وَقَوۡلِهِمۡ قُلُوبُنَا غُلۡفُۢۚ بَلۡ طَبَعَ ٱللَّهُ عَلَيۡهَا بِكُفۡرِهِمۡ فَلَا يُؤۡمِنُونَ إِلَّا قَلِيلٗا ١٥٥
And [We cursed them]1 for their breaking of the covenant and their disbelief in the signs of Allāh and their killing of the prophets without right and their saying, "Our hearts are wrapped" [i.e., sealed against reception]. Rather, Allāh has sealed them because of their disbelief, so they believe not, except for a few.2
TA đã trục xuất chúng ra khỏi lòng thương xót và hồng phúc của TA, bởi việc chúng đã bội ước, bởi chúng đã phủ nhận các lời mặc khải của TA, bởi chúng đã cố ý sát hại các vị Nabi của TA, và bởi lời của chúng nói với Muhammad: "Trái tim của bọn ta đã đóng lại không hiểu được những gì ngươi nói" nhưng sự việc không phải như chúng nói mà chính Allah đã niêm kín trái tim của chúng để chúng không thể chạm đến điều tốt khiến chúng chẳng có đức tin ngoài một niềm tin vô cùng ít ỏi không mang lại giá trị gì cho chúng.
4:156Page 103
وَبِكُفۡرِهِمۡ وَقَوۡلِهِمۡ عَلَىٰ مَرۡيَمَ بُهۡتَٰنًا عَظِيمٗا ١٥٦
And [We cursed them] for their disbelief and their saying against Mary a great slander1
Và TA đã đuổi chúng ra khỏi lòng thương xót và hồng phúc của TA bởi sự vô đức tin của chúng và bởi chúng đã vu oan cho nữ Mar-yam (mẹ của Nabi Ysa) làm chuyện Zina.
4:157Page 103
وَقَوۡلِهِمۡ إِنَّا قَتَلۡنَا ٱلۡمَسِيحَ عِيسَى ٱبۡنَ مَرۡيَمَ رَسُولَ ٱللَّهِ وَمَا قَتَلُوهُ وَمَا صَلَبُوهُ وَلَٰكِن شُبِّهَ لَهُمۡۚ وَإِنَّ ٱلَّذِينَ ٱخۡتَلَفُواْ فِيهِ لَفِي شَكّٖ مِّنۡهُۚ مَا لَهُم بِهِۦ مِنۡ عِلۡمٍ إِلَّا ٱتِّبَاعَ ٱلظَّنِّۚ وَمَا قَتَلُوهُ يَقِينَۢا ١٥٧
And [for] their saying, "Indeed, we have killed the Messiah, Jesus the son of Mary, the messenger of Allāh." And they did not kill him, nor did they crucify him; but [another] was made to resemble him to them. And indeed, those who differ over it are in doubt about it. They have no knowledge of it except the following of assumption. And they did not kill him, for certain.1
TA đã nguyền rủa chúng bởi lời giả dối của chúng: "quả thật, chúng tôi đã giết Masih Ysa con trai của Mar-yam, Sứ giả của Allah" nhưng thực chất chúng không hề giết được Y cũng không hề đóng đinh Y trên cây thánh giá như lời chúng đã hô hào. Người mà chúng giết và đóng đinh trên cây thánh giá chỉ là một người được Allah hoán đổi hình hài giống với hình hài của Ysa nhưng chúng cứ tưởng chúng đã giết được Ysa. Những kẻ thuộc những người Do Thái hô hào nói rằng chúng đã giết chết Ysa và những kẻ tin lời của chúng từ những người Thiên Chúa, cả hai bọn chúng đều chỉ phỏng đoán chứ không hề có sự hiểu biết chắc chắn nào. Nói túm lại, chúng thực sự không giết được Ysa và cũng không hề đóng đinh Y trên cây thánh giá.
4:158Page 103
بَل رَّفَعَهُ ٱللَّهُ إِلَيۡهِۚ وَكَانَ ٱللَّهُ عَزِيزًا حَكِيمٗا ١٥٨
Rather, Allāh raised him to Himself. And ever is Allāh Exalted in Might and Wise.
Không, chúng không giết được Ysa và chúng không đóng đinh được Y mà chính Allah đã cứu Y và đưa Y lên cùng với Ngài, Ngài đã đưa Y lên bằng thân xác lẫn linh hồn của Y. Quả thật, Allah là Đấng Toàn Năng trong vương quyền, không có gì có thể chi phối được Ngài, và Ngài là Đấng Sáng Suốt trong việc điều hành, chi phối và định đoạt sự việc.
4:159Page 103
وَإِن مِّنۡ أَهۡلِ ٱلۡكِتَٰبِ إِلَّا لَيُؤۡمِنَنَّ بِهِۦ قَبۡلَ مَوۡتِهِۦۖ وَيَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِ يَكُونُ عَلَيۡهِمۡ شَهِيدٗا ١٥٩
And there is none from the People of the Scripture but that he will surely believe in him [i.e., Jesus] before his death.1 And on the Day of Resurrection he will be against them a witness.
Chắc chắn rồi đây tất cả mọi người của dân Kinh Sách đều sẽ tin nơi Ysa sau khi Y giáng thế trở lại vào cuối thời đại sau cùng của thế gian trước khi Y chết. Và vào Ngày Phục Sinh, Ysa sẽ là người làm chứng cho tất cả việc làm của chúng, Y sẽ xác nhận đâu là việc làm đúng với giáo lý của Allah và đâu là việc làm sai trái.
4:160Page 103
فَبِظُلۡمٖ مِّنَ ٱلَّذِينَ هَادُواْ حَرَّمۡنَا عَلَيۡهِمۡ طَيِّبَٰتٍ أُحِلَّتۡ لَهُمۡ وَبِصَدِّهِمۡ عَن سَبِيلِ ٱللَّهِ كَثِيرٗا ١٦٠
For wrongdoing on the part of the Jews, We made unlawful for them [certain] good foods which had been lawful to them, and for their averting from the way of Allāh many [people],
Vì sự sai trái của người Do Thái nên TA đã cấm chúng một số loại thực phẩm tốt lành mà trước kia chúng đã từng được cho phép dùng. TA đã cấm chúng tất cả loài vật có móng chân liền (có học giả thì cho rằng đó là lạc đà, đà điểu, ngỗng, vịt; có học giả thì cho rằng đó là lạc đà và đà điểu), và TA cấm chúng dùng mỡ bò và mỡ dê ngoại trừ mỡ dính vào lưng và ruột của con vật. Và vì chúng luôn cản trở bản thân chúng và thiên hạ đi theo con đường của TA nên TA cản trở chúng để trừng phạt chúng.
4:161Page 103
وَأَخۡذِهِمُ ٱلرِّبَوٰاْ وَقَدۡ نُهُواْ عَنۡهُ وَأَكۡلِهِمۡ أَمۡوَٰلَ ٱلنَّاسِ بِٱلۡبَٰطِلِۚ وَأَعۡتَدۡنَا لِلۡكَٰفِرِينَ مِنۡهُمۡ عَذَابًا أَلِيمٗا ١٦١
And [for] their taking of usury while they had been forbidden from it, and their consuming of the people's wealth unjustly. And We have prepared for the disbelievers among them a painful punishment.
Vì chúng đã giao dịch kinh doanh bằng hình thức vay lãi sau khi Allah đã nghiêm cấm chúng và vì chúng đã chiếm đoạt tài sản của thiên hạ nên TA đã chuẩn bị cho chúng - những kẻ vô đức tin một sự trừng phạt đau đớn.
4:162Page 103
لَّٰكِنِ ٱلرَّٰسِخُونَ فِي ٱلۡعِلۡمِ مِنۡهُمۡ وَٱلۡمُؤۡمِنُونَ يُؤۡمِنُونَ بِمَآ أُنزِلَ إِلَيۡكَ وَمَآ أُنزِلَ مِن قَبۡلِكَۚ وَٱلۡمُقِيمِينَ ٱلصَّلَوٰةَۚ وَٱلۡمُؤۡتُونَ ٱلزَّكَوٰةَ وَٱلۡمُؤۡمِنُونَ بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ أُوْلَٰٓئِكَ سَنُؤۡتِيهِمۡ أَجۡرًا عَظِيمًا ١٦٢
But those firm in knowledge among them and the believers believe in what has been revealed to you, [O Muḥammad], and what was revealed before you. And the establishers of prayer [especially] and the givers of zakāh and the believers in Allāh and the Last Day - those We will give a great reward.
Tuy nhiên, những người có kiến thức vững chắc trong đám người Do Thái và những người có đức tin đều tin tưởng nơi những gì được Allah mặc khải xuống cho Ngươi - hỡi Thiên Sứ Muhammad - từ Kinh Qur'an và tin tưởng nơi những gì được Ngài mặc khải xuống trong các Kinh Sách cho các vị Thiên Sứ ở những thời trước Ngươi như Kinh Tawrah, Injil, những người dâng lễ nguyện Salah, những người xuất Zakah từ nguồn tài sản của họ, những người tin nơi Allah là một Thượng Đế duy nhất, một Đấng được thờ phượng duy nhât, Ngài không có tổ hợp ngang vai, và những người tin nơi Ngày Phán Xét cuối cùng. Những người mang những mô tả này là những người sẽ được TA ban cho họ một phẫn thưởng vĩ đại.
4:163Page 104
۞ إِنَّآ أَوۡحَيۡنَآ إِلَيۡكَ كَمَآ أَوۡحَيۡنَآ إِلَىٰ نُوحٖ وَٱلنَّبِيِّـۧنَ مِنۢ بَعۡدِهِۦۚ وَأَوۡحَيۡنَآ إِلَىٰٓ إِبۡرَٰهِيمَ وَإِسۡمَٰعِيلَ وَإِسۡحَٰقَ وَيَعۡقُوبَ وَٱلۡأَسۡبَاطِ وَعِيسَىٰ وَأَيُّوبَ وَيُونُسَ وَهَٰرُونَ وَسُلَيۡمَٰنَۚ وَءَاتَيۡنَا دَاوُۥدَ زَبُورٗا ١٦٣
Indeed, We have revealed to you, [O Muḥammad], as We revealed to Noah and the prophets after him. And We revealed to Abraham, Ishmael, Isaac, Jacob, the Descendants,1 Jesus, Job, Jonah, Aaron, and Solomon; and to David We gave the book [of Psalms].
Hỡi Thiên Sứ Muhammad! Quả thật, TA đã mặc khải cho Ngươi giống như việc TA đã mặc khải cho các vị Nabi trước Ngươi, Ngươi thực sự không phải là người với vai trò mới mẻ gì cả so với các vị Thiên Sứ trước Ngươi. Quả thật TA đã mặc khải cho Ngươi giống như TA đã mặc khải cho Nuh (Noah), và cho các vị Nabi thời sau Y; TA đã mặc khải cho Ibrahim (Abraham), cho con trai của Y Isma'il, cho Is-haq, cho Ya'qub (Jacob), và cho các bộ lạc Israel, họ là những bộ lạc thuộc 12 đứa con của Ya'qub; và TA cũng đã ban cho xuống cho Ysa (Giê-su), cho Ayyub, cho Yunus, cho Harun, cho Sulaiman (Salamon) và TA đã ban cho Dawood (David) Az-Zabur (Kinh Thi Thiên).
4:164Page 104
وَرُسُلٗا قَدۡ قَصَصۡنَٰهُمۡ عَلَيۡكَ مِن قَبۡلُ وَرُسُلٗا لَّمۡ نَقۡصُصۡهُمۡ عَلَيۡكَۚ وَكَلَّمَ ٱللَّهُ مُوسَىٰ تَكۡلِيمٗا ١٦٤
And [We sent] messengers about whom We have related [their stories] to you before and messengers about whom We have not related to you. And Allāh spoke to Moses with [direct] speech.
Có các vị Thiên Sứ, TA đã kể câu chuyện của họ cho Ngươi trong Qur'an nhưng có một số vị khác TA đã không kể cho Ngươi về các chuyện của họ. TA không đề cập họ trong Qur'an là do có ngụ ý của TA; và TA đã phán truyền lời mặc khải của TA trực tiếp cho Musa mà không có bất cứ sự trung gian nào, TA phán trực tiếp với Musa như là một vinh dự của TA dành cho Y.
4:165Page 104
رُّسُلٗا مُّبَشِّرِينَ وَمُنذِرِينَ لِئَلَّا يَكُونَ لِلنَّاسِ عَلَى ٱللَّهِ حُجَّةُۢ بَعۡدَ ٱلرُّسُلِۚ وَكَانَ ٱللَّهُ عَزِيزًا حَكِيمٗا ١٦٥
[We sent] messengers as bringers of good tidings and warners so that mankind will have no argument against Allāh after the messengers. And ever is Allāh Exalted in Might and Wise.
TA đã cử các vị Thiên Sứ đến làm những người báo tin mừng về những phần thưởng nồng hậu cho những ai tin nơi TA đồng thời làm những người cảnh báo về sự trừng phạt đau đớn dành cho những kẻ vô đức tin. Mục đích để nhân loại không có cớ để biện minh cho việc sai trái của họ trước Allah sau khi các vị Thiên Sứ của Ngài đã được cử phái đến với họ. Quả thật, Allah là Đấng Toàn Năng trong chi phối và điều hành và Ngài là Đấng Sáng Suốt và Anh Minh trong định đoạt và Chỉ Thị.
4:166Page 104
لَّٰكِنِ ٱللَّهُ يَشۡهَدُ بِمَآ أَنزَلَ إِلَيۡكَۖ أَنزَلَهُۥ بِعِلۡمِهِۦۖ وَٱلۡمَلَٰٓئِكَةُ يَشۡهَدُونَۚ وَكَفَىٰ بِٱللَّهِ شَهِيدًا ١٦٦
But Allāh bears witness to that which He has revealed to you. He has sent it down with His knowledge, and the angels bear witness [as well]. And sufficient is Allāh as Witness.
Nếu những người Do Thái phủ nhận Ngươi - Thiên Sứ Muhammad - thì quả thật Allah tin Ngươi và làm chứng cho những gì được ban xuống cho Ngươi từ Qur'an là sự thật. Bởi chính Ngài đã ban Nó xuống cho Ngươi nhằm để cho các bề tôi của Ngài chiếu theo đó mà thực hiện những điều Ngài yêu thích và hài lòng cũng như tránh xa những gì Ngài ghét bỏ. Và các Thiên Thần củng tin và làm chứng cho Ngươi và cho những gì Ngươi mang đến. Và cho dù không ai làm chứng thì một mình Allah cũng đã đủ làm chứng cho sự trung thực của Ngươi rồi.
4:167Page 104
إِنَّ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ وَصَدُّواْ عَن سَبِيلِ ٱللَّهِ قَدۡ ضَلُّواْ ضَلَٰلَۢا بَعِيدًا ١٦٧
Indeed, those who disbelieve and avert [people] from the way of Allāh have certainly gone far astray.
Những ai phủ nhận sứ mạng Nabi của Ngươi và ngăn cản thiên hạ đi theo Islam thì quả thật họ đã rời quá xa khỏi chân lý.
4:168Page 104
إِنَّ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ وَظَلَمُواْ لَمۡ يَكُنِ ٱللَّهُ لِيَغۡفِرَ لَهُمۡ وَلَا لِيَهۡدِيَهُمۡ طَرِيقًا ١٦٨
Indeed, those who disbelieve and commit wrong [or injustice] - never will Allāh forgive them, nor will He guide them to a path,
Những ai phủ nhận Allah và các Thiên Sứ của Ngài và bất công với chính bản thân họ bởi việc duy trì trên sự vô đức tin của họ thì Allah sẽ không tha thứ cho họ, và Ngài cũng sẽ không hướng dẫn họ đến với con đường cứu rỗi khỏi sự trừng phạt của Ngài.
4:169Page 104
إِلَّا طَرِيقَ جَهَنَّمَ خَٰلِدِينَ فِيهَآ أَبَدٗاۚ وَكَانَ ذَٰلِكَ عَلَى ٱللَّهِ يَسِيرٗا ١٦٩
Except the path of Hell; they will abide therein forever. And that, for Allāh, is [always] easy.
Những kẻ phủ nhận Allah và các Thiên Sứ của Ngài và luôn duy trì sự vô đức tin của mình thì họ chỉ có một con đường duy nhất, đó là con đường đến với Hỏa Ngục, họ sẽ phải sống trong đó mãi mãi và mãi mãi. Và điều đó với Allah vô cùng đơn gian và dễ dàng.
4:170Page 104
يَٰٓأَيُّهَا ٱلنَّاسُ قَدۡ جَآءَكُمُ ٱلرَّسُولُ بِٱلۡحَقِّ مِن رَّبِّكُمۡ فَـَٔامِنُواْ خَيۡرٗا لَّكُمۡۚ وَإِن تَكۡفُرُواْ فَإِنَّ لِلَّهِ مَا فِي ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِۚ وَكَانَ ٱللَّهُ عَلِيمًا حَكِيمٗا ١٧٠
O mankind, the Messenger has come to you with the truth from your Lord, so believe; it is better for you. But if you disbelieve - then indeed, to Allāh belongs whatever is in the heavens and earth. And ever is Allāh Knowing and Wise.
Hỡi những người có đức tin! Quả thật Thiên Sứ Muhammad đến với các ngươi mang theo sự chỉ đạo và tôn giáo chân lý từ nơi Allah, Thượng Đế của các ngươi. Do đó, các ngươi cần phải tin nơi Y, như thế mới tốt cho các ngươi ở trên cõi trần và cõi Đời Sau. Còn nếu các ngươi phủ nhận Allah và phủ nhận Y thì thật ra Allah vẫn là Đấng Giàu Có, Ngài không cần đến đức tin của các ngươi và sự vô đức tin của các ngươi cũng không làm ảnh hưởng gì đến Ngài, Ngài vẫn là Đấng Thống Trị và Nắm Quyền trên tất cả vạn vật trong các tầng trời và trái đất. Và Allah là Đấng Hằng Biết ai đáng được hướng dẫn và y sẽ được hướng dẫn, và ai không đáng được hướng dẫn và sẽ không được hướng dẫn, và Ngài luôn Anh Minh và Sáng Suốt trong lời nói, hành động, định đoạt và ban hành.
4:171Page 105
يَٰٓأَهۡلَ ٱلۡكِتَٰبِ لَا تَغۡلُواْ فِي دِينِكُمۡ وَلَا تَقُولُواْ عَلَى ٱللَّهِ إِلَّا ٱلۡحَقَّۚ إِنَّمَا ٱلۡمَسِيحُ عِيسَى ٱبۡنُ مَرۡيَمَ رَسُولُ ٱللَّهِ وَكَلِمَتُهُۥٓ أَلۡقَىٰهَآ إِلَىٰ مَرۡيَمَ وَرُوحٞ مِّنۡهُۖ فَـَٔامِنُواْ بِٱللَّهِ وَرُسُلِهِۦۖ وَلَا تَقُولُواْ ثَلَٰثَةٌۚ ٱنتَهُواْ خَيۡرٗا لَّكُمۡۚ إِنَّمَا ٱللَّهُ إِلَٰهٞ وَٰحِدٞۖ سُبۡحَٰنَهُۥٓ أَن يَكُونَ لَهُۥ وَلَدٞۘ لَّهُۥ مَا فِي ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَمَا فِي ٱلۡأَرۡضِۗ وَكَفَىٰ بِٱللَّهِ وَكِيلٗا ١٧١
O People of the Scripture, do not commit excess in your religion1 or say about Allāh except the truth. The Messiah, Jesus the son of Mary, was but a messenger of Allāh and His word which He directed to Mary and a soul [created at a command] from Him. So believe in Allāh and His messengers. And do not say, "Three"; desist - it is better for you. Indeed, Allāh is but one God. Exalted is He above having a son. To Him belongs whatever is in the heavens and whatever is on the earth. And sufficient is Allāh as Disposer of affairs.
Hỡi vị Thiên Sứ của Allah! Ngươi hãy nói với những người Thiên Chúa, dân của Kinh Injil: các ngươi chớ thái quá trong tôn giáo của các ngươi, các ngươi chớ đừng nói gì về Ysa ngoại trừ đó là sự thật. Quả thật, Masih Ysa con trai của Mar-yam chỉ là vị Thiên Sứ của Ngài được Ngài cử phái đến cho nhân loại, Ngài tạo hóa Y bằng lời phán "Hãy thành" của Ngài được truyền đến Mar-yam qua đại Thiên Thần Jibril, và linh hồn của Y là từ nơi Allah được Jibril mang xuống thổi vào nữ ta theo lệnh của Ngài. Bởi thế, các ngươi cần phải tin nơi Allah và tất cả các vị Thiên Sứ của Ngài, không phân biệt và kỳ thị một ai trong số họ, các ngươi chớ nói "chúa ba ngôi", các ngươi phải ngừng ngay lời nói sàm bậy đó của các ngươi, có như thế thì mới tốt cho các ngươi trên cõi đời này và cõi Đời Sau. Quả thật, Allah là Thượng Đế duy nhất, Ngài không có đối tác ngang vai và cũng không có con, Ngài không cần có con bởi Ngài là Đấng Tạo Hóa, mọi vật trong các tầng trời và mọi vật trên trái đất đều là tạo vật của Allah, và chỉ một mình Ngài là Đấng cai quản, chi phối và điều hành mọi vật trong các tầng trời và mọi vật trên trái đất.
4:172Page 105
لَّن يَسۡتَنكِفَ ٱلۡمَسِيحُ أَن يَكُونَ عَبۡدٗا لِّلَّهِ وَلَا ٱلۡمَلَٰٓئِكَةُ ٱلۡمُقَرَّبُونَۚ وَمَن يَسۡتَنكِفۡ عَنۡ عِبَادَتِهِۦ وَيَسۡتَكۡبِرۡ فَسَيَحۡشُرُهُمۡ إِلَيۡهِ جَمِيعٗا ١٧٢
Never would the Messiah disdain to be a servant of Allāh, nor would the angels near [to Him]. And whoever disdains His worship and is arrogant - He will gather them to Himself all together.
Masih Ysa con trai của Mar-yam không hề cảm thấy e ngại khi làm người bề tôi của Allah và Y không hề phủ nhận mình là bề tôi của Ngài; các Thiên Thần cận kề Allah cũng không e ngại cho bổn phận bề tôi của họ đối với Ngài, họ không hề đưa cao họ lên khỏi vị trí bề tôi của họ, vậy cớ sao các ngươi lại nhận lấy Ysa làm Thượng Đế, sao những kẻ đa thần lại nhận lấy các Thiên Thần làm những thần linh của họ? Và những ai e ngại không muốn thờ phượng Allah, những ai ngạo mạn phủ nhận Ngài thì vào Ngày Phục Sinh tất cả họ vẫn phải bị Allah triệu tập và Ngài sẽ trừng phạt họ một cách thích đáng.
4:173Page 105
فَأَمَّا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَعَمِلُواْ ٱلصَّٰلِحَٰتِ فَيُوَفِّيهِمۡ أُجُورَهُمۡ وَيَزِيدُهُم مِّن فَضۡلِهِۦۖ وَأَمَّا ٱلَّذِينَ ٱسۡتَنكَفُواْ وَٱسۡتَكۡبَرُواْ فَيُعَذِّبُهُمۡ عَذَابًا أَلِيمٗا وَلَا يَجِدُونَ لَهُم مِّن دُونِ ٱللَّهِ وَلِيّٗا وَلَا نَصِيرٗا ١٧٣
And as for those who believed and did righteous deeds, He will give them in full their rewards and grant them extra from His bounty. But as for those who disdained and were arrogant, He will punish them with a painful punishment, and they will not find for themselves besides Allāh any protector or helper.
Những ai có đức tin nơi Allah và tin nơi các vị Thiên Sứ của Ngài đồng thời thành tâm làm điều thiện tốt và ngoan đạo vì Allah theo đúng yêu cầu và chỉ định của giáo lý mà Ngài ban hành thì họ sẽ được ban thưởng tương xứng với các việc làm của họ, không những được ban thưởng tương xứng mà còn được ban thêm từ sự hồng phúc và sự tử tế của Ngài. Ngược lại, những ai phủ nhận sự thờ phượng Allah, không chịu tuân phục Ngài vì sự ngạo mạn, tự cao tự đạị của họ thì họ sẽ bị Ngài trừng phạt bằng một sự trừng phạt đau đớn tột cùng, và họ sẽ không tìm thấy ngoài Allah vị bảo hộ hay vị cứu tinh nào.
4:174Page 105
يَٰٓأَيُّهَا ٱلنَّاسُ قَدۡ جَآءَكُم بُرۡهَٰنٞ مِّن رَّبِّكُمۡ وَأَنزَلۡنَآ إِلَيۡكُمۡ نُورٗا مُّبِينٗا ١٧٤
O mankind, there has come to you a conclusive proof from your Lord, and We have sent down to you a clear light.1
Này hỡi nhân loại! Quả thật một bằng chứng xác thực - một bằng chứng cắt đứt mọi sự biện minh và xóa hết mọi ngờ vực - từ Thượng Đế của các ngươi đã đến với các ngươi, đó là Muhammad; và TA đã ban xuống cho các ngươi nguồn Ánh Sáng rõ rệt, đó là Qur'an.
4:175Page 105
فَأَمَّا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ بِٱللَّهِ وَٱعۡتَصَمُواْ بِهِۦ فَسَيُدۡخِلُهُمۡ فِي رَحۡمَةٖ مِّنۡهُ وَفَضۡلٖ وَيَهۡدِيهِمۡ إِلَيۡهِ صِرَٰطٗا مُّسۡتَقِيمٗا ١٧٥
So those who believe in Allāh and hold fast to Him - He will admit them to mercy from Himself and bounty and guide them to Himself on a straight path.
Những người có đức tin nơi Allah và bám lấy Qur'an, Kinh sách được ban xuống cho vị Nabi của họ, thì họ sẽ được thương xót thu nhận vào Thiên Đàng của Ngài và Ngài sẽ ban thêm cho họ phần ân thưởng, sẽ nâng họ lên cấp bậc cao ở nơi Ngài và sẽ phù hộ họ trên con đường ngay chính để trở về với Ngài, và đó là con đường dẫn đến những ngôi vườn Thiên Đàng - nơi của cuộc sống vĩnh hằng với niềm hạnh phúc và sự tận hưởng bất tận.
4:176Page 106
يَسۡتَفۡتُونَكَ قُلِ ٱللَّهُ يُفۡتِيكُمۡ فِي ٱلۡكَلَٰلَةِۚ إِنِ ٱمۡرُؤٌاْ هَلَكَ لَيۡسَ لَهُۥ وَلَدٞ وَلَهُۥٓ أُخۡتٞ فَلَهَا نِصۡفُ مَا تَرَكَۚ وَهُوَ يَرِثُهَآ إِن لَّمۡ يَكُن لَّهَا وَلَدٞۚ فَإِن كَانَتَا ٱثۡنَتَيۡنِ فَلَهُمَا ٱلثُّلُثَانِ مِمَّا تَرَكَۚ وَإِن كَانُوٓاْ إِخۡوَةٗ رِّجَالٗا وَنِسَآءٗ فَلِلذَّكَرِ مِثۡلُ حَظِّ ٱلۡأُنثَيَيۡنِۗ يُبَيِّنُ ٱللَّهُ لَكُمۡ أَن تَضِلُّواْۗ وَٱللَّهُ بِكُلِّ شَيۡءٍ عَلِيمُۢ ١٧٦
They request from you a [legal] ruling. Say, "Allāh gives you a ruling concerning one having neither descendants nor ascendants [as heirs]." If a man dies, leaving no child but [only] a sister, she will have half of what he left. And he inherits from her if she [dies and] has no child. But if there are two sisters [or more], they will have two thirds of what he left. If there are both brothers and sisters, the male will have the share of two females.1 Allāh makes clear to you [His law], lest you go astray. And Allāh is Knowing of all things.
Hỡi Thiên Sứ của Allah! Họ hỏi Ngươi về một vấn đề liên quan đến việc chia tài sản của một người chết đi nhưng y không có con cái và cha mẹ. Ngươi hãy bảo họ: Allah trình bày luật định này như sau: nếu một người chết đi nhưng y không có con cái cũng không có cha mẹ mà chỉ có một chị (em gái) ruột hoặc một người chị (em gái) cùng cha khác mẹ thì người chị (em gái) đó sẽ hưởng một nửa tài sản mà y để lại; nếu một người chết đi và y không có con cái lẫn cha mẹ mà chỉ có một người anh (em trai) ruột hoặc một người anh (em trai) cùng cha khác mẹ thì người anh (em trai) đó sẽ hưởng tòa bộ tài sản mà y để lại nếu như không có ai cùng thừa kế theo mức định, còn nếu có người thừa kế theo mức định thì người anh (em trai) đó hưởng phần còn lại sau khi đã chia cho người hưởng thừa kế theo mức định; nếu người không cha mẹ, con cái chết đi mà có chị (em gái) ruột hoặc cùng cha khác mẹ nhiều hơn một thì các chị (em gái) đó cùng hưởng 2/3 (hai phần ba) tài sản y để lại; còn nếu người không cha mẹ, con cái chết đi có các anh, chị (em gái, em trai) thì nam giới hưởng hai phần của nữ giới. Đó là những gì mà Allah đã trình bày về luật định chia tài sản của trường hợp một người chết đi nhưng không có cha mẹ và con cái, Ngài trình bày rõ ràng và cụ thể như thế để các ngươi không lầm lạc trong vấn đề. Và Allah là Đấng thấu hiểu và am tường hết mọi sự việc, không có bất cứ điều gì có thể che giấu được Ngài.
Text: Quranic Universal Library (Tarteel), via spa5k/tafsir_api (MIT), at a fixed version. The ayahs: Quran Foundation. Sources and licences